Hôm nay, Thứ tư 03-09-2014
Tìm kiếm
Đóng
Liên kết
Đóng
 
 
 
 
 
 
 
 

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ ĐÔNG PHƯỚC

HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH HẬU GIANG

1930 - 1975

(SƠ THẢO)

 

 

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ ĐÔNG PHƯỚC

Tháng 12 năm 2003

 

Lời nói đầu

 

Tổ quốc Việt Nam ta rất anh hùng, vì có Đảng vinh quang. Đông Phước là xã anh hùng, vì có Đảng bộ anh hùng, nhân dân ta anh hùng trong chiến đấu, dũng cảm và sáng tạo trong xây dựng hòa bình.

Ngày nay Ngã Sáu thuyền bè tấp nập, trên 6 dòng kinh nước trong xanh lộng ánh trăng vàng, các cô gái miền quê tóc dài thon thả trong chiếc áo bà ba đưa nhẹ mái chèo, những tà áo dài thướt tha như đàn bướm trắng vui đuổi nhau vào mái trường xinh xắn, cảnh công trường rộn rã tiếng máy tiếng cười, những giọt mồ hôi tưới xuống đồng mạ xanh thẳng tắp chân trời xa, vang tiếng hát yêu đời, để tạo dựng Đông Phước tươi đẹp dưới nắng mai. Cây trái muôn màu, vườn xanh hoa nở, lòng người nở hoa. Lòng dân Đông Phước có những phút giây xúc động bồi hồi, tự hào tưởng nhớ lịch sử hào hùng của tiền nhân khai phá, ông cha chiến đấu kiên cường.

Đông Phước xưa là vùng sâu nghèo cơ cực bậc nhất, từ khi có Đảng, nổi tiếng anh hùng hàng đầu.

Trái tim của Ngô Hữu Hạnh, người cộng sản, người bí thư đầu tiên của chi bộ Thường Phước, còn tỏa mãi ánh sáng Nam kỳ khởi nghĩa trên biển Đông, cuối trời Tổ quốc. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” của Bùi Tâm Hảo, Phó Bí thư Đảng bộ Đông Phước hiên ngang trên pháp trường ở khán đài Đông Sơn đã thành tiếng kèn xuất quân xung trận đánh Mỹ.

Sông nước, ruộng vườn Ngã Cạy còn in bóng đồng chí Ba Ca, người cố nông theo Đảng, 26 ngày đánh Mỹ, 4 ngày bắt cua đinh nuôi vợ con, với lòng căm thù nghĩ ra cách đánh giặc bằng ong vò vẽ, tạo nên chiến tích huyền thoại cả thế giới khâm phục. Với ý chí quyết thắng, người du kích Mười Cụt, Ba Thanh đã sáng chế nạng giàn thun bắn lựu đạn vào đồn địch, là vũ khí từ cổ chí kim chưa có.

Người Đông Phước hiền hòa, nhưng khi cần thì biết chọn cái chết liệt oanh, còn kịp nhìn kẻ thù ngã gục dưới chân mình, như anh Nguyễn Văn Rớt, bị biệt kích bao vây, anh giựt chốt lựu đạn “cưa đôi với giặc”.

Người Đông Phước nặng tình nghĩa làng xóm, trước phút hy sinh vẫn lo nghĩ cho đồng đội, anh Nho bị thương cụt hai chân, biết mình không sống nổi, đã nhường thuốc, bông băng lại cho anh em… nụ cười trên môi tươi tỉnh, đi vào cõi vĩnh hằng.

Vâng lời Bác dạy “ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm” những người nông dân thất học như anh Út Đệ, Hai Cọ, Ba Thanh trở thành “Kỹ sư nông dân” chế tạo vũ khí thô sơ, biến những trái lựu đạn lép của giặc giết lại giặc. Phụ nữ Đông Phước trung trinh, chung thủy sáng ngời xóa tan bóng tối âm mưu làm hoen ố gia đình cách mạng; với tâm hồn chất phác cao thượng nhưng gan góc, lý lẽ thông minh, tiến lên như thác lũ triều dâng, cuốn trôi kẻ bạo tàn, lấy nghĩa nhân thắng cường bạo rực rỡ chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, tôn vinh đội quân tóc dài và bà mẹ anh hùng. Đảng bộ Đông Phước từ ngày ra đời, đã 38 năm dài kiên cường bám đất, bám dân, một phút không rời; chưa đầy 3 tuổi đã lãnh đạo nhân dân phất cờ Nam kỳ khởi nghĩa, giương cao ngọn cờ độc lập, dân chủ trong lửa đạn 2 cuộc kháng chiến thần thánh đến ngày toàn thắng. Đảng bộ Đông Phước có những Bí thư như: Phạm Chánh Mỹ (Năm Mỹ), Trần Văn Duyên (Chín Mẫn), Trần Văn Năm (Năm Mù)… gan lì bám trụ, “điều lắng” đã tìm phương hướng đánh địch: tay không thắng giặc để vùng lên đồng khởi làm điên đầu bọn nhà Trắng bên kia Đại Tây Dương.

Từ năm 1969, cuộc chiến tàn khốc đến tột cùng, Mỹ muốn xóa “cái gai Đông Phước” trên bản đồ Cần Thơ, nhưng du kích và đồng bào, với sự chỉ huy của Bí thư Sáu Inh, Út Một, đã quần nhau với địch hằng ngày giữ trọn lời thề “một tấc không đi, một ly không rời”. Đông Phước máu và hoa, cái chết hóa thành bất tử, thành đóa sen hồng chiến công. Lá cờ giải phóng kiêu hãnh tung bay trên xóm làng Đông Phước từ tháng 3 năm 1975.

Ngày 30-04-1975, Đại đội hai địa phương Châu Thành vừa được thành lập trước đó 10 ngày, từ Đông Phước đã tiến về góp sức giải phóng Cái Răng.

Thật là:

Tội ác giặc Mỹ: Nước 6 kinh Ngã Sáu không rửa sạch.

Còn chiến công: Hoa anh hùng nở rộ đón chào xuân.

Uống nước nhớ nguồn, để cháu con ghi nhớ công ơn những người đã dựng nên Đông Phước anh hùng, mang truyền thống vẻ vang quý báu có một không hai tiến quân vào trận chiến đấu mới để xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cho Đông Phước ngàn lần tươi đẹp hơn.

Dù truy tìm tư liệu quá khó khăn, nhân chứng sống còn quá ít. Đảng bộ Đông Phước vẫn quyết tâm viết quyển sơ thảo lịch sử này, chắn chắn chưa đầy đủ, nhiều thiếu sót.

Kính mong các đồng chí Đảng viên lão thành của Đông Phước, các đồng chí đã từng lãnh đạo và công tác tại Đông Phước, bà con từng bám đất chiến đấu rộng lòng tha thứ và nhiệt tình cung cấp thêm, góp ý cho quyển sơ thảo lịch sử Đông Phước ngày càng đầy đủ, hoàn chỉnh hơn.

Trân trọng, chân thành biết ơn.

 

                                                      BCH ĐẢNG BỘ XÃ ĐÔNG PHƯỚC

 

PHẦN MỘT

LỊCH SỬ ĐẤU TRANH CỦA ĐẢNG BỘ

VÀ NHÂN DÂN XÃ ĐÔNG PHƯỚC

 

CHƯƠNG I

 

I. VÙNG ĐẤT – CON NGƯỜI

Xã Đông Phước, xã anh hùng được nhà nước phong tặng ngày 20-12-1994, là xã đã phát huy truyền thống tốt đẹp trong những năm hòa bình xây dựng đất nước được Hội đồng nhà nước khen thưởng “Huân chương Chiến công hạng nhì”, với thành tích xây dựng sau 15 năm thống nhất đất nước. Xã Đông Sơn và Thường Phước sát nhập thành xã Đông Phước gồm 12 ấp: Phước Thuận, Phước Long, Phước Hưng, Phước Hòa, Phước Thạnh, Đông Lợi, Đông Bình, Đông Phú, Đông Thạnh, Đông Mỹ, Long Lợi, Long An.

Đông Phước là một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ, có địa lý và trung tâm dân cư, đầu mối giao lưu, cụm kinh tế - xã hội liên hoàn với một số xã khu vực Châu Thành.

Phía Đông giáp xã Phú Hữu

Phía Tây giáp xã Long Thạnh

Phía Nam giáp với xã Đại Thành (huyện Phụng Hiệp).

Phía Bắc giáp với xã Đông Thạnh

Diện tích: 5.899 ha, dân số: 27.784 người.

Thời Pháp thuộc theo Nghị định 20-12-1889 của thống đốc Nam kỳ, hạt đổi thành tỉnh, tỉnh Cần Thơ có 4 quận, 10 tổng, 94 xã.

Tổng Định Phước có 7 xã: Đông Sơn, Long Mỹ, Như Lăng, Phụng Hiệp, Song Mỹ, Thường Phước, Trường Thành Sơn. Như vậy xã Đông Sơn và Thường Phước đã có tên trong bản đồ hành chính.

Từ khi khai phá đến thành xóm ấp, làng phải trải qua nhiều thế hệ, thời gian rất dài: Đông Sơn, Thường Phước là vùng đất được người Việt Nam khai phá từ xa xưa.

Ta hãy đi ngược dòng lịch sử. Theo địa chí tỉnh Cần Thơ . Năm Qúi Dậu (1753) Võ Vương (chúa Nguyễn đàng trong) phá ký lục bộ Chánh dinh Nguyễn Cư Trinh vào Nam bộ kinh lược, ông Nguyễn Cư Trinh chiêu tập lưu dân, tổ chức quân đội thẳng tiến vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, ông xây dựng đồn trại, tổ chức lại chính quyền hành chính ở những nơi mới khai khẩn.

Từ năm 1805 đến năm 1836 triều Nguyễn tiến hành xong công cuộc đạc điền và lập địa bạ toàn quốc.

Từ năm 1814 (Gia Long thứ 12) Cần Thơ thuộc huyện Vĩnh Định (nam sông Hậu) triều vua Minh Mạng 1832 đổi trấn thành tỉnh. Cần Thơ thuộc tỉnh Vĩnh Định có 4 tổng. Tổng Định Bảo có 8 thôn, có thôn Trường Thạnh (xứ Cái Răng) có thể chăng, Đông Sơn, Thường Phước nằm trong Cái Răng địa hình nằm liền kề nhau.

Lịch sử đã khẳng định, có ba dòng người đến khai phá vùng sông Hậu, lập Trấn Giang (tên xưa cũ của Cần Thơ).

Dòng người thứ nhất là theo những quan lại từ quan, những sĩ phu, cùng nhiều tập đoàn dân nghèo, chán ghét triều Lê chúa Trịnh rời bỏ quê cha đất tổ đi tìm cuộc sống tự do, trong số họ đa số là người Bắc, sau đó là dân đất Thuận – Quảng (miền Trung) theo Nguyễn Cư Trinh, dòng người này còn lưu gia phả ở các xã ven sông Hậu như Phú An, Phú Hữu giáp ranh với Đông Phước. Chúng ta lắng nghe khúc dân ca lưu truyền qua nhiều đời:

“Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Đồng Nai

Nước trong xanh sao lại chảy hoài

Thường người xa xứ lạc loài tới đây”

Và hai câu thơ:

“Cu kêu ba tiếng cu kêu

Trông mau đến Tết dựng nêu ăn chè”

(Theo miền Bắc, tết phải có cây nêu)

Dòng người thứ hai, từ sông Tiền xuống sông Hậu.

Theo ông Bùi Nhật Ổn, 63 tuổi: Tổ phụ của ông, từ sông Tiền đến vùng Đông Phước đời ông sơ (ông nội của ông nội) ông nội kể rằng: “Có hai cha con phá rừng (ở Thường Phước) gặp cọp – hai cha con đâu lưng lại, chĩa hai mũi mác lên cao để chống cọp phủ đầu” cọp bỏ đi hai cha con chết giấc từ hồi nào rồi.

Dòng người thứ ba (sau hơn hết) theo Mạc Thiên Tứ từ Hà Tiên lui về Trấn Giang để chống lại vua Xiêm Phi Nhã Tân, và sau này chống quan Tây Sơn truy đuổi chúa Nguyễn.

Vợ con binh lính theo chồng, theo cha và cùng họ ở lại Trấn Giang. Qua những chứng cứ trên, ta có thể khẳng định một chân lý lịch sử là: Người Việt Nam cuối thể kỷ XVII, thời chúa Nguyễn (đàng trong) là người đầu tiên đặt chân khai phá vùng tả, hữu ngạn sông Hậu, trong đó có Đông Sơn và Thường Phước là xã Đông Phước ngày nay. Quan hệ họ hàng giữa người Đông Phước và Thường Thạnh ngày nay còn rất đông.

Hiểu được ngọn ngành chân lý này, ta mới lý giải được chất anh hùng Nam bộ nói chung, và Đông Phước nói riêng, bắt nguồn từ trái tim yêu nước đấu tranh chống ngoại xâm, chống cường quyền của người Việt Nam với bốn nghìn năm văn hiến.

Quyển lịch sử Đảng bộ huyện Phụng Hiệp có viết: “Dân cư vùng đất Phụng Hiệp lúc ban đầu ở rải rác các vùng Láng Hầm, Rạch Gòi, Mái Dầm (Phú Hữu), Tràm Bông (Đông Sơn), Giòng Đá v.v…”.

Từ xa xưa, vùng đất này là đất hoang dã, rừng tràm bạc ngàn, chen lẫn cây bần, sen đồng, lau sậy (cách đây vài mươi năm, dân còn đào những gốc tràm rất to). Rất nhiều thú dữ: cá sấu, rắn, cọp, beo, heo rừng, trâu rừng, nhiều đàn voi, đỉa vắt, muỗi mòng.

“Qua mùa nước ngập mênh mông

Voi lên sông nước, xuống rông băng ngàn

Lâu lâu quen ở đã an

Dậm bờ đạp lúa cả đoàn hàng trăm”

Voi, trâu rừng đi hàng đàn, tạo lối đi ngoằn ngoèo, dấu chân voi lâu ngày thành lung bào, thành rạch như “Rạch Đường Trâu”.

Tính mạng con người luôn bị đe dọa vì chướng khí nước độc rừng già, bởi lắm loài thú dữ rình rập, chuyện kể rằng: “Sáu người đi săn gặp con trăn to (hoành bằng khạp da bò) vũ khí thô sơ không chống lại nổi, một người bị trăn quấn nuốt chửng, ngày sau dân làng mang nhiều vũ khí bén, cung tên đi giết trăn để trả thù. Con trăn bụng sình lên không bò được, dân làng mổ bụng trăn lấy xác người về chôn, lấy thịt trăn chia cả làng cùng hưởng”.

 

CHƯƠNG II

 

II. CƠ CẤU XÃ HỘI – KINH TẾ - VĂN HÓA

Lưỡi dao chặt cây phá rừng nguyên sinh, nhát cuốc đầu tiên xuống đất hoang sơ  vang động từ hướng bắc khu vực Cái Muồng, Ngã Cạy (giáp xã Đông Thạnh). Không thể kể xiết gian truân cơ cực của những người cùng đường phải đến vùng sâu này, vùng xa lộ 4, xa sông Hậu trù phú, sông ngòi chưa khai thông nên tiếp thu “văn minh kinh xáng”, giao lưu các vùng để nâng cao đời sống rất khó khăn chậm chạp.

Phải lao động vất vả để kiếm cái ăn dù thiên nhiên rất ưu đãi, nước ngọt quanh năm, rừng nhiều thú, chim chóc, sông nhiều tôm cá. Nhìn chung thì Thường Phước trù phú hơn Đông Sơn nhiều. Ngã Sáu (trung tâm xã hiện nay) lúc mới hình thành chỉ có 4 ngã.

1.      Rạch Cái Dầu: theo đường sông Hậu đi Cần Thơ – Vĩnh Long.

2.      Rạch Mái Dầm: đi từ xã Phú Hữu, xa hơn nữa là Kế Sách, Sóc Trăng.

3.      Rạch Cái Muồng: đi từ xã Long Thạnh về Cái Răng (trung tâm huyện).

4.      Rạch Kinh Lạc: đi trong xã Đông Phước. Về sau Pháp bắt phu đào.

5.      Kinh Hậu Bối (kinh mới): đi Cầu Trắng (Phụng Hiệp).

6.      Rạch Xẻo Chồi: cũng đi Cầu Trắng (Phụng Hiệp).

Ngã Sáu chia hai bên Xẻo Chồi, Kinh Lạc, Kinh Mới thuộc Đông Sơn. Cái Đôi, Ngã Cạy, Cái Muồng thuộc Thường Phước, về sau Pháp bắt đào thêm kinh, rạch.

Khoảng năm 1940 – 1945 xáng múc “Kinh xáng Nàng Mau” đưa nước ngọt từ sông Hậu ra Phú Hữu – Đông Phước – Phụng Hiệp về cho hàng ngàn héc-ta đất, thuận tiện giao thông thủy, tập trung dân cư hai bờ kinh, xuất hiện cái gọi là “văn minh kinh xáng”.

Từ xưa, vùng đất này khó khai thác, kỹ thuật dụng cụ quá thô sơ, nên phải trải qua thời gian rất dài hơn đối với các nơi khác, dân cư mới kéo về đông dần. Có người giỏi khai thác được 5 héc-ta đến 7 héc-ta, họ trở thành phú nông. Số khác bị địa chủ lớn chèn ép, cho vay nặng lãi, dùng thủ đoạn thâm độc để mua đất rẻ hoặc giựt đất. Đa số là tá điền làm công cho địa chủ mua đất khai khẩn. Đến đầu thế kỷ thứ XX, khoảng năm 1905 việc trồng lúa, rau củ mới phát triển. Đến năm 1925, việc trao đổi hàng hóa giữa Đông Sơn, Thường Phước và các vùng khác ngày càng rộng hơn.

Từ khi khai phá đến lập xóm ấp, qua thời gian dài, dân phải sống dưới chế độ phong kiến; bị kìm kẹp bởi luật vua phép nước lệ làng, số phận của họ nằm gọn trong tay bọn ác bá cường hào, sống một đời tôi mọi từ ông cha đến con cháu, bên cạnh nổi thống khổ ấy còn gặp phải cảnh bắt lính của vua Gia Long, những người lính họ bị bắt đưa ra tận Huế. Người lính thú triều đình ngậm ngui với câu “Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa”, họ chỉ nhìn được lần cuối cùng bóng hình mẹ già, vợ yếu, con thơ dại dưới mái tranh nghèo dột nát.

Trong số họ biết đâu có một số người ra đi không bao giờ trở lại, để cho người góa phụ ôm con côi nước mắt đầm đìa.

Đời sống tâm linh của họ cũng bị ràng buộc bởi lễ giáo “tam cương ngũ thường, phò vua theo chúa” và giáo lý nhà Phật về kiếp luân hồi ru ngủ, an phận theo mệnh trời, phó mặt cho số phận hiện tại trông chờ vào nhân quả của kiếp sau.

Đời sống văn hóa hầu như số không, chỉ có kể chuyện cổ tích, ngâm vài câu thơ hoài niệm người xa xứ, hoặc thả hồn theo tiếng tiêu sầu, tiếng đàn cò ai oán hay những câu hò lai láng tình quê, tình người.

Hò ơ…

Nay em có nghén con so

Anh cưng cho cho như trứng mỏng

Không cho em trèo ghế leo thang

Chẩn mạch cho nàng gái trai cho biết

…..

Nước lường ba chén sắc còn bảy phân

Uống vô mạnh khỏe như thần

Nghệ tiêu phèn muối vân vân

Củi than đốt để có phần

Chờ đến ngày em khai hoa nở nhụy

Anh săn sóc ân cần, trình với thung đường

Ngày sau sanh con thảo cháu hiền

Vinh hoa phú quý – phỉ nguyền đôi ta

                                               (Trích bài hò xưa đất Đông Phước)

 

CHƯƠNG III

 

IV. ĐÔNG PHƯỚC ĐƯỚI THỜI PHÁP THUỘC

Dân Đông Phước sống về nghề ruộng, có một số ít làm thêm nghề dệt chiếu; không thể kể xiết nồi cùng cực của người nông dân thời Pháp thuộc trong cảnh một cổ hai tròng. Riêng Đông Phước là vùng sâu đời người dân càng bi đát hơn, bọn địa chủ như con đỉa ba vòi hút máu nhân dân bằng địa tô, lợi tức, nhân công. Vì đường đi lại khó khăn, bọn Tây và địa chủ không lập đồn điền hay xây dựng nhà xưởng ở vùng sâu này. Một số địa chủ lớn có tiếng như Cả Đạt (Cái Răng), Lý Phước Thạnh, bà Cả Non (Cái Chanh), Hàm Ở, xã Gấm bóc lột vơ vét qua trung gian là người “bao hóa đất” (người thuê đất của địa chủ rồi cho tá điền thuê lại). Xong mùa gặt chưa kịp mừng thì đống lúa đã biến mất vào tay địa chủ lấy lúa ruộng, lúa vay và còn phải đóng lúa canh (canh gác của làng), lúa cúng bà Chúa Xứ, còn bị nạn gian lận trong cân đong, cái táo 22 lít.

Người nông dân trắng tay không đủ cơm cháo ăn còn phải lo cống nộp cho ngày giỗ, ngày tết của nhà địa chủ hai ngày không công và một cặp vịt to. Phải đi vay mượn nặng lãi, làm mướn kiếm sống quần quật đêm ngày, vào rừng, xuống sông nguy hiểm đến tính mạng. Bên cạnh đó người dân còn bị Tây, Hội tề, tay sai đàn áp, bắt đóng đủ các thứ thuế (thuế thân phải bán 25 giạ lúa) đi phu làm sâu liên miên, nạn bắt lính, nạn tình nghi vu khống theo hội kín, theo cộng sản rồi bị tù đày.

Dân làng phải thay ngựa trâu, kẻ đẩy người đeo dây vào cổ, kéo ống cán hủ lô, làm lộ giữa ngày nắng đổ lửa còn bị đánh đập, quỵt bớt tiền công rẻ mạt.

Hãy nhìn về mặt văn hóa, để thấy thực dân vây gí dân ta trong vòng tròn bế tắc, đói thể xác, cùng quẩn tâm hồn, u tối trí tuệ hòng dễ trị; chúng chỉ cho tôn giáo phát triển như đạo Cao Đài, Hòa Hảo để ru ngủ, chia rẽ tình làng nghĩa xóm; có chăng chúng tổ chức cho phép loại giải trí đầy nọc độc như rượu chè, cờ bạc, hốt me, đá gà, hút xách, đồng bóng, mê tín dị đoan để xóm làng sinh nạn trộm cướp gây mất an ninh, mất đoàn kết, mất tính người.

Nhưng dân ta có cách giữ vững lễ hội, đình chùa, đây là nơi sinh hoạt tâm linh, giữ bản sắc Việt Nam, thuần phong mỹ tục, để nhớ và noi gương cha ông, hun đúc thêm ngọn lửa yêu nước, ý chí quật cường trong trái tim sôi sục của mình. Hai ngôi đình thờ vị thần Nguyễn Trung Trực, thủ lĩnh nghĩa binh đã làm bạc vía giặc Tây, một ở tại Ngã Cạy (ấp Phước Long) lập từ năm 1923 và một tại Cầu Dừa (ấp Đông Lợi) lập từ năm 1925. Hàng năm có cúng đình hai lần: Thượng điền vào tháng tư âm lịch và Hạ điền vào tháng mười một âm lịch. Theo nghi lễ thì xóm ấp cúng hai con heo, người có đất mang cúng mâm xôi, dân làng tập trung ăn uống và tổ chức vui chơi lành mạnh như: kéo co, đánh cờ người, thí vàng giúp tiền người nghèo vv… Đây cũng là dịp để bà con thưởng thức văn nghệ như xem hát bội, một kịch chủng truyền thống; tiếng đàn, tiếng hát, tuồng tích trung trinh nghĩa khí làm rung động lòng người. Thất mùa thì hát nhỏ, trúng mùa thì hát lớn 2 đến 3 chầu.

Về việc học chữ, tới năm 1926 mới mở trường đầu tiên tại vàm Cái Muồng, chỉ có hai lớp năm và lớp tư (lớp 1 và lớp 2 bây giờ) thầy giáo Mười dạy, sau có thêm giáo Giàu, giáo Cơ, học sinh chỉ lèo tèo 5 đến 10 học sinh nam, rất ít nữ, vì quan niệm phong kiến “nam trọng, nữ khinh” nên ít cho nữ đi học.

Bọn Pháp chỉ lo xây nhà tù, gông cùm, không xây dựng công trình phúc lợi xã hội nào cho Đông Phước về y tế, giao thông, cầu đường. Dịch bệnh lan tràn, dân chết hàng loạt, người đau ốm không tiền mua thuốc, chỉ trông chờ vào cây lá thuốc Nam, cạo gió, nồi xông; người sắp trút hơi tàn còn phải bám vào những lá bùa, câu thần chú, chữa trị mò của thầy cúng. Người chết không có đất nằm, phải lạy lục chủ điền xin đất chôn, đối đế đành phải đưa người thân mai táng ở lung bào.

Mấy câu thơ sau đây tả cảnh đứt ruột mẹ xa con để đi tìm cái ăn.

“Ai về Đông Phước mà xem

Lên rừng rắn độc, xuống sông đỉa lềnh

Quanh năm cuộc sống cơ hàn

Đau thì thiếu thuốc, đói thì thiếu cơm”

“Con ơi con ở lại nhà

Mẹ đi làm mắm tháng ba mẹ về

Mẹ về có mắm con ăn

Có khô con nướng, có em con bồng”

Bọn cai trị dã man, địa chủ tàn ác, gieo vào lòng người bần cố nông niềm uất hận không đội trời chung, ân oán phải đền.

 

PHẦN HAI

NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH

VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG

CỦA NHÂN DÂN ĐÔNG PHƯỚC DƯỚI

CỜ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

CHƯƠNG IV

 

I. ĐẤU TRANH TỰ PHÁT VÀ DƯỚI NGỌN CỜ SĨ PHU

“Có áp bức, có đấu tranh”, là quy luật đấu tranh giai cấp trên quan điểm Mác-Lênin, con đường thoát của những người có nghĩa khí, nhân dân Đông Phước đứng dưới lá cờ sĩ phu yêu nước đánh Tây… Ta chưa có tư liệu để xác nhận người dân Đông Phước đã theo cờ người anh hùng nông dân Đinh Sâm đánh Tây, chém đầu Cai tổng Vĩnh ở Phong Điền, nhưng xét về địa lý cùng chung một tổng thì rất có thể chắc chắn một điều là, dũng khí bất tử của thủ lĩnh Đinh Sâm đã nung sôi dòng máu đỏ quật cường trong tim người Đông Phước, giục bước họ tiến dưới cờ khởi nghĩa của anh hùng Nguyễn Trung Trực. Hai đình thần ở Đông Phước đều thờ ông, là biểu tượng minh chứng cho sự thật lịch sử nói trên.

Năm 1910, thực dân Pháp bắt dân Phụng Hiệp (có dân Đông Phước) đào kinh quan; dưới sự chỉ đạo nhóm “kèo xanh kèo vàng” (một tổ chức yêu nước xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ XIX ở Trung bộ, chạy vào Nam), dân nổi dậy đánh bọn cai thầu, tự động bỏ việc về làng. Bọn chúng đưa quân đến đàn áp mới dập tắt được. Vai trò lãnh đạo của phong trào sĩ phu yêu nước mất dần, nhưng ngọn cờ khởi nghĩa ấy vẫn âm thầm phất cao trong ý chí mọi người. Mất phương hướng nông dân phải đấu tranh tự phát. Từ năm 1910 – 1913 dân Đông Phước làm mùa xong, địa chủ lùng sục, vơ vét hết, đời sống nhân dân lâm vào cơ cực, đến nổi phải đi đập rơm kiếm lúa lép để sống cũng bị đánh đập mang bệnh chết. Phú nông bị chèn ép cũng không kém; ông nội của Lê Đình Thi là Lê Đình Tại đánh Hội đồng tích ở Ngã Cạy ức hiếp dân. Trong đêm đen nô lệ, cờ đỏ búa liềm của Đảng Cộng sản sáng rực như vì sao bắc đẩu, cứu tinh cho người đi biển trong cơn giông tố. Đường lối sáng suốt của Đảng ta, phẩm chất bản lĩnh của đảng viên trong sáng kiên cường, đã gieo vào lòng người niềm tin chiến thắng như nắng hạn gặp mưa rào, ruộng đồng Đông Phước mạ thêm xanh lúa thêm vàng, sen hồng chen nhau đua nở đón chào xuân.

Hòn than yêu nước âm ỉ của Đông Phước bắt đầu bùng lên theo gió mới, cờ đỏ búa liềm phất phới bay vượt qua mấy độ thăng trầm.

 

CHƯƠNG V

 

II. PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN ĐÔNG PHƯỚC DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Sự khao khát đợi chờ tổ chức lãnh đạo sáng suốt, tiến bộ; thời cơ đấu tranh của nhân dân Cần Thơ và Đông Phước đã đến.

Trong cảnh sống ngột ngạt sau đại chiến thứ nhất, nhân dân Việt Nam tiếp tục được luồng gió Cách mạng vô sản tháng Mười Nga, cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là trí tuệ khoa học của cách mạng thời đại mới, mà người đầu tiên đưa về tổ quốc Việt Nam là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Từ năm 1924-1925 sách báo bí mật như: Đường kách mệnh, Bản án chế độ thực dân Pháp, báo Người cùng khổ… của Nguyễn Ái Quốc đã về đến tay một số học sinh trường Collège Cần Thơ là Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Tây, Nguyễn Văn Cưng, Châu Văn Liêm, Phan Văn Bảy… lần lượt đến những thanh niên và nhân dân huyện Châu Thành, thành động lực mới cho phong trào. Chẳng bao lâu, các tổ chức “Nông hội đỏ, Thanh niên, Phụ nữ phản đế” được hình thành và là tiền thân của “Thanh niên Cách mạng đồng chí hội”. Phong trào đấu tranh đòi lại công điền, công thợ, giảm thuế, giảm xâu diễn ra sôi nổi.

Tháng 9-1929 thành lập An Nam Cộng sản Đảng và Đặc ủy An Nam cộng sản Đảng Hậu Giang.

Ngày 3-2-1930 Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, bước lên vũ đài chính trị, lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Các đảng viên đầu tiên của Cần Thơ như Phan Văn Bảy, Quảng Trọng Hoàng, Nguyễn Thế Ngọc thường xuyên về các làng ở quận Châu Thành để gầy dựng cơ sở, bồi dưỡng những hạt giống đỏ. Sự hoạt động của chi bộ Xóm Chài (1935) có ảnh hưởng lớn đến Đông Phước.

A. ĐẨY MẠNH CAO TRÀO DÂN CHỦ 1936-1939

Tháng 1-1936, mặt trận nhân dân Pháp (còn gọi là mặt trận bình dân) tạo thời cơ thuận lợi cho vận động cách mạng ở các nước thuộc địa và Đông Dương.

Làng Đông Sơn và Phú Hữu là một trong bốn trụ sở của “ủy ban hành động”, nâng cao chất lượng đấu tranh của quần chúng.

Năm 1936, đồng chí Nguyễn Nguyên Hạnh giới thiệu đồng chí Quảng Trọng Hoàng là Phó Bí thư Liên Tỉnh ủy Hậu Giang, kết nạp đồng chí Ngô Văn Khỏe tức Ngô Hữu Hạnh. Thế là làng Thường Phước có đảng viên đầu tiên, trong lớp đảng viên tiền bối lãnh đạo của Đảng bộ Cần Thơ. Đồng chí Ngô Hữu Hạnh nhanh chóng xây dựng cơ sở cốt cán cho phong trào.

Đầu năm 1937, chi bộ Đảng làng Thường Phước do đồng chí Ngô Hữu Hạnh làm Bí thư đầu tiên, có các đồng chí: Bùi Văn Ngọc (Chín Ngọc), Bộ Kịa, Huỳnh Công Trang, sau kết nạp thêm đồng chí Năm Hưởng, Bảy Thọ; chưa đủ số đảng viên nên đảng viên Thường Phước, Đông Sơn sinh hoạt chung một chi bộ.

Năm 1938-1939, chi bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống thu thuế, chống bắt lính “người Việt chết thay cho Pháp”, chi bộ Thường Phước vận động khoảng 100 người dự cuộc mít tinh tại Lung Bảy Thưa, để nghe đồng chí Ngô Hữu Hạnh chỉ ra cho bà con thấy rõ thủ đoạn bóc lột của thực dân và địa chủ, đồng thời phổ biến tình hình đất nước và chủ trương của Đảng. Khí thế sôi nổi, đấu tranh rầm rộ hơn. Chi bộ kết nạp thêm một số cốt cán: Phạm Chủ Lực (Năm Mỹ), Tám Đường, Tư Tài.

Tháng 3-1973, nhân kỷ niệm ngày mất của chiến sĩ yêu nước Phan Chu Trinh, Ủy ban hành động của Thường Phước – Đông Sơn – Phú Hữu đã tổ chức mít tinh, phát động tinh thần yêu nước noi gương cụ.

Ngày 1-5-1938, hai chi bộ Thường Phước, Đông Sơn phát động gần 50 bà con kéo đến Nhà việc làng đòi cứu đói, giảm thuế, giảm tô, chia lại đất cho tá điền không có, hoặc thiếu đất.

Phát huy thắng lợi, Đông Sơn – Thường Phước phối hợp với Phú Hữu, Thường Đông kéo lên dinh quận, buộc tên chủ quận phải chấp nhận yêu sách gửi về tỉnh.

Cuối năm 1938, đồng chí Ngô Hữu Hạnh được bổ sung vào Tỉnh ủy Cần Thơ; chi bộ tách ra: Chi bộ Thường Phước do đồng chí Trần Ngọc Hưởng làm Bí thư, có 4 đảng viên; chi bộ Đông Sơn do đồng chí Trần Thế Mỹ làm Bí thư, có 3 đảng viên, sau đó đồng chí Bảy Thọ (Ba Kỳ) là Bí thư.

Ngày 14-7-1939, Tỉnh ủy vận động quần chúng tham gia cuộc mít tinh quy mô, kỷ niệm 150 năm cách mạng Pháp tại thị xã Cần Thơ. Hơn 8.000 người từ các quận đến dự, đội ngũ chỉnh tề, đa số là đồng bào quận Châu Thành (có Đông Phước),  hơn 1.000 người vào rạp Casino, số còn lại xếp hàng trật tự ngoài rạp dài theo đường Delanoue (đường Phan Đình Phùng ngày nay) sau đó tuần hành qua các đường, đồng thanh hát vang bài Quốc tế ca. Đây là cuộc mít tinh công khai do người cộng sản tổ chức, đã nói lên tiếng nói của Đảng và nguyện vọng của tầng lớp nhân dân.

Lần đầu tiên nhân dân Cần Thơ biểu dương sức mạnh đoàn kết của mình khiến quân thù run sợ, bất lực.

Cuối năm 1938 đầu năm 1939, thực dân Pháp ở Đông dương phản bội, trở mặt đàn áp tàn bạo, bắt bớ đảng viên, giải tán các tổ chức quần chúng hợp pháp, gây căng thẳng trong đời sống nhân dân. Dù thế Đảng vẫn đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh, chống tăng thuế, chống bắt lính, yêu cầu được tham gia việc phòng thủ Đông Dương chống phát xít.

Làng Đông Sơn, Thường Phước là địa chỉ đỏ cùng một số làng khác trong phong trào này.

Từ năm 1936-1939, cao trào cách mạng vươn lên về tổ chức và lực lượng rộng khắp, vững chắc, phối hợp nhịp nhàng.

Đảng bộ Phụng Hiệp tiếp thu Nghị quyết TW lần thứ 6 (11-1939, đưa cách mạng nước ta sang thời kỳ mới: “Thời kỳ trực tiếp đánh đổ chế độ thống trị của thực dân Pháp, giành độc lập, tự do cho nhân dân”. Tiếp theo, được chủ trương của hội nghị tỉnh Cần Thơ (12-1939) các đồng chí trong ban cán sự Đảng Phụng Hiệp trực tiếp xuống bám cơ sở, xây dựng lại các chi bộ, có chi bộ Đông Sơn, Thường Phước.

Đồng chí Nguyễn Văn Mai (Mai Cồ) Tỉnh ủy viên triển khai “đề cương khởi nghĩa” cho các chi bộ: Phú Hữu, Đông Sơn, Thường Phước; được đảng viên nhất trí cao. Tổ chức chống cướp phát triển mạnh ở Đông Sơn, Thường Phước, thành lập từ 2 đến 3 tiểu đội bắt cướp, việc luyện tập võ nghệ thu hút đông đảo thanh niên, nhiều lò rèn làm vũ khí thô sơ. Thực chất là chuẩn bị cho lực lượng võ trang khởi nghĩa.

Đông Sơn, Thường Phước tổ chức những ngày kỷ niệm, quốc tế lao động 1-5, bằng các hình thức rải truyền đơn, treo băng, khẩu hiệu, cờ đỏ búa liềm, phát tán báo Tiến Lên của Đặc ủy Hậu Giang. Ban đêm nổi trống, mõ làm bọn tề xã ác ôn hoang mang, chạy trốn lánh thân.

Ngày 23-9-1940, tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật, dân ta càng cơ cực đến tột cùng.

B. ĐÔNG SƠN, THƯỜNG PHƯỚC TRONG CUỘC NAM KỲ KHỞI NGHĨA

Hội nghị Xứ ủy tháng 9 năm 1940 quyết định khởi nghĩa Nam kỳ và quyết tâm của Tỉnh ủy Cần Thơ xác định kế hoạch mục tiêu khởi nghĩa tại Cần Thơ. Huyện ủy Châu Thành trực tiếp về Thường Phước, về Đông Sơn truyền lệnh khởi nghĩa. Thời điểm hành động là không giờ đêm ngày 22 rạng 23-11-1940. Du kích Thường Phước được phân công cùng du kích Tân Phú Thạnh phá cầu Cái Răng. Đông Sơn tập hợp quần chúng phản đế cùng lực lượng Phú Hữu tiến về quận lỵ đánh chiếm các mục tiêu đã định.

Chi bộ Phú Hữu vận động được 70 quần chúng, tập trung tại nhà bà Ngô Thị Lụa ở Ngã Lá (cơ quan Liên Tỉnh ủy) cùng bà con Đông Sơn tiến về cướp dinh quận Phụng Hiệp.

Quân khởi nghĩa được lệnh rút về Cái Cui – Đông Phú.

Năm giờ sáng ngày 25-11. Tại nhà việc Phú Hữu, sau khi đốt hết sổ sách giấy tờ, nổi trống mõ tập hợp quần chúng tham gia mít tinh, biểu tình thị uy, vô rạch Mái Dầm, rồi trở ra chợ, bọn tề xã hoảng hốt trốn mất.

Cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng tinh thần bất diệt của cuộc tập dượt cướp chánh quyền đầu tiên này vẫn sống mãi trong lòng dân.

Giặc Pháp điên cuồng bất bớ, tàn sát hàng ngàn người. Đồng chí Ngô Hữu Hạnh, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Cần Thơ bị chúng xử bắn tại khám lớn Cần Thơ, sau khi chúng thất bại vì tù đày tra tấn không lay chuyển được khí tiết của đồng chí. Người đảng viên kiên cường đầu tiên của Thường Phước, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc đã hiên ngang không cho bọn đồ tể bịt mắt, trìu mến nhìn đồng bào, nhìn thẳng vào họng súng quân thù, hô to khẩu hiệu: “Đả đảo thực dân Pháp” “Cách mạng thành công muôn năm”.

Hàng ngàn đồng bào rơi lệ, căm uất tràn vào pháp trường hét vang: “Đả đảo bọn sát nhân”.

Máu đào người con ưu tú thấm vào đất mẹ Đông Phước cho lúa vàng, trái ngọt, ươm ngàn hạt giống đỏ nhiều thế hệ mai sau. Ngô Hữu Hạnh đời đời sống trong trái tim Cần Thơ – Đông Phước.

Đồng chí Đào Văn Tần, đảng viên gần 60 tuổi Đảng, Trung đội trưởng cộng hòa vệ binh xã Phú Thứ (1945) tâm sự rằng: “Dũng khí đảng viên của Ngô Hữu Hạnh làm tôi kính phục Đảng và ngay ngày sau tôi đi tìm tổ chức cách mạng”.

 

CHƯƠNG VI

ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN ĐÔNG PHƯỚC KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN

 

A. VƯỢT QUA MỌI THỬ THÁCH KHÔI PHỤC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ TỔ CHỨC QUẦN CHÚNG SAU KHỞI NGHĨA NAM KỲ (1941 – 8 / 1945)

Bọn cầm quyền phủ màn tang đau thương trên từng gia đình của Phú Hữu, Đông Sơn, Thường Phước. Bọn chúng vừa hốt hoảng, vừa điên cuồng mất cả tính người, đốt nhà, hủy diệt xóm làng, giết người dã man hơn thời trung cổ. Chúng dùng dây chì xỏ xâu tay, khất nhượng người cộng sản lẫn người chúng tình nghi kéo lê trên mặt đường hòng đè bẹp tinh thần đấu tranh, nhưng nhân dân ta càng khâm phục, kính trọng người đảng viên, nén đau thương, nuốt uất hận chờ ngày hỏi tội kẻ thù.

Chi bộ làng Phú Hữu, Đông Sơn, Thường Phước vv… bị tan rã. Thực hiện nghị quyết của hội nghị đại biểu các quận trong tỉnh vào tháng 1 năm 1941, tại Bù Hút, làng Phong Hòa, các quận khẩn trương xây dựng lại các chi bộ bị tan rã, đồng thời phục hồi và phát triển các tổ chức quần chúng: thanh niên, phụ nữ, nông dân phản đế.

Một cổ hai tròng, phát xít Nhật càng tàn ác hơn, dùng người để làm bia thử súng, mổ bụng người thử độ bén của gươm. Chúng vơ vét, bóc lộ tận xương tủy để cung phụng cho trận chiến mà chúng sắp thua cuộc. Đặt thêm nhiều thứ thuế vô lý như thuế nóc gia, thuế lương bổng vv… Bắt dân nhổ dâu tằm ăn để trồng đay, tập trung lúa gạo của dân vào kho dự trữ cho chiến tranh, người thất nghiệp càng đông, trộm cướp hoành hành, cảnh nhà chòi xiêu vẹo, mập mờ ánh rọi mù u, người đói nằm la liệt không còn đủ bông súng, củ co để thay cơm. Bệnh tật không có thuốc uống, nạn dịch lan tràn, tiếng mỏ kêu cứu báo hiệu người chết hòa với tiếng ếch nhái côn trùng thê thảm. Quần bô, áo dệt bằng cọng lác, không đủ che thân, bị rận hút máu. Nguy hiểm hơn, bọn chúng khuyến khích cho các đạo giáo Cao Đài, Hòa Hảo phát triển mạnh nhằm ru ngủ dân nghèo vào con đường mê tín, cầu an.

Trước bối cảnh lịch sử vô cùng phức tạp, nhờ có ánh sáng nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 và chủ trương kịp thời đúng đắn của Liên Tỉnh  ủy Hậu Giang (7-1942), chỉ đạo các địa phương nhanh chóng khôi phục các tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng tổ chức quần chúng, lực lượng cách mạng nông thôn.

Đồng chí Lưu Kim Phong (Bảy Quới) về chỉ đạo một số làng có Thường Phước, Đông Sơn; phong trào lên mạnh toàn diện, sôi nổi rực khí thế.

Sáng 10-3-1945 Nhật đảo chính Pháp. Tên chỉ huy giặc lùn “Satô” đổ 600 quân về Cần Thơ, do tên Huỳnh Khai đầu sỏ của nghĩa sĩ Đảng (tên việt gian này là con tên hội đồng gian ác). Bọn côn đồ này, cùng lính Nhật đua nhau cướp bóc gây cảnh hỗn loạn từ thành thị đến nông thôn, đời sống nhân dân ngày càng cơ cực, căm phẫn. Vè chống Nhật được phổ biến khắp tỉnh.

“Trời cao có thấy

Cái bọn giặc lùn

Bức bách xóm làng

Giết người mổ bụng

Không cho làm ruộng

Bắt trồng bố đay

Qụa kêu dậy đất

Được chẳng mấy lúc

Giải pháp đầu hàng”

Tình hình thế giới và trong nước diễn biến nhanh

Ngày 12-3-1945, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã phát động mạnh mẽ phong trào cách mạng của nhân dân chống phát xít Nhật và chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Tháng 4 – 1945, Đông Phước được vinh dự bảo vệ cuộc hội nghị thành lập Liên Tỉnh ủy miền Tây gồm 11 tỉnh, do đồng chí Nguyễn Văn Tây, Xứ ủy viên triệu tập tại rạch Cái Muồng.

Hội nghị bầu ban chấp hành Liên Tỉnh ủy do đồng chí Nguyễn Văn Tây (Bí thư), Trần Ngọc Quế, Ủy viên phụ trách Cần Thơ.

Ngày 1 – 5 – 1945 phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, quân Nhật bị tấn công mạnh ở Thái Bình Dương. Rất hoang mang, chúng muốn nắm lực lượng thanh niên để làm hậu thuẫn. Tên cáo già trùm phát xít IĐA chọn bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, nhà trí thức có uy tín ở Sài Gòn làm thủ lĩnh.

Xứ ủy chọn đồng chí Phạm Ngọc Thạch để lãnh đạo “Thanh niên tiền phong” và chỉ thị cho các cấp chọn người thủ lĩnh tổ chức này. Ở Cần Thơ Tỉnh ủy chọn đồng chí Trần Văn Khéo, chủ tịch nghiệp đoàn giáo Thức làm thủ lĩnh. Ở Đông Sơn, Thường Phước phong trào thanh niên tiền phong rất sôi nổi.

Sông nước, ruộng đồng Đông Phước sáng lên theo lời ca yêu nước “Lên đàng” “Tiếng gọi thanh niên” của người sinh viên nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (Người con đất Ô Môn – Cần Thơ) thúc giục chuẩn bị tổng khởi nghĩa.

Đông Phước bí mật rèn gươm giáo, mã tấu, phi tiêu, tầm vông vạt nhọn để vũ trang cho đồng bào.

Ngày 16-8-1945, đại hội quốc dân Tân Trào ra lệnh tổng khởi nghĩa. Đây là thời cơ “ngàn năm có một” mà Đảng ta và lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh nắm bắt rất chính xác khoa học.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra hiệu triệu, kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên giành chính quyền.

Ngày 19-8-1945, ta cướp chính quyền Pháp tại Hà Nội, chính quyền địch sụp đổ nhanh chóng tạo thời cơ cho toàn đất nước.

Chi bộ Đông Sơn, Thường Phước (có trên 50 đảng viên) lãnh đạo lực lượng nhân dân nổi dậy bằng sức mạnh chính trị, vũ trang. Bọn tề làng hoàn toàn tê liệt.

Tin Cần Thơ cướp chính quyền, làm nức lòng người.

Dưới sự hướng dẫn của nhóm nòng cốt: Phan Đình Hoàng, Lê Hồng Nhật, Nguyễn Thị Phát, Nguyễn Thị Thơm, Trần Tuyết Hạnh, Phạm Phú Tải, Nguyễn Thị Chiến, Trần Phong Cầm, Trần Phong Sắc, Hai Kình, lực lượng quần chúng làng Đông Sơn, Thường Phước, Thường Thạnh kéo về sân vận động Phụng Hiệp (chừng 1.000 người ), trương băng, cờ đỏ sao vàng, bao vây dinh quận, hô vang khẩu hiệu “Việt Nam độc lập muôn năm” “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm”.

Ngày 26-8-1945, lực lượng và nhân dân Đông Sơn, Thường Phước hòa theo 2 vạn người tiến về Cần Thơ, biến cuộc mít tinh thành cuộc cướp chính quyền tỉnh Cần Thơ.

Nhân dân Đông Phước, dưới cờ Đảng đã vùng lên đổi đời. Trải qua đoạn đường 15 năm xương máu, hoa “độc lập đã nở” nhân dân thật sự là chủ đất nước, xóa đời nô lệ 80 năm xiềng xích thoát kiếp lầm than dưới chế độ vua chúa ngàn đời.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Đông Phước hăng hái chuẩn bị chiến đấu với giặc Pháp tái xâm lược.

Quân dân Đông Phước đáp lời Bác Hồ: “Thà hy sinh tất cả, nhất định không để mất nước, nhất định không làm nô lệ”.

 

PHẦN BA

ĐẢNG BỘ VÀ QUÂN DÂN ĐÔNG PHƯỚC

TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN

TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN CHỐNG THỰC DÂN

PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954)

 

CHƯƠNG VII

 

I. NHỮNG NGÀY NAM BỘ KHÁNG CHIẾN ĐẾN TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (26-8-1945 ĐẾN 19-12-1946)

Lá cờ tổ quốc sao vàng phất phới sáng rực xóm làng Đông Phước, thắp sáng niềm tin trong lòng người công dân nước độc lập. Từ dòng sông, đồng ruộng vút cao tiếng hát của những người hăng say làm việc hết mình để thực hiện lời hiệu triệu của Chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng tỉnh Cần Thơ, ông Trần Ngọc Quế ngày 26-8 và Nghị quyết 7 điểm của Tỉnh ủy Cần Thơ.

Mới được mấy ngày vui, Đông Phước phải đối phó với âm mưu của bọn đầu sỏ phản động đội lốt tôn giáo xúi giục, huy động một số tín đồ Hòa Hảo nhẹ dạ hòng cướp chính quyền cách mạng Cần Thơ ngày 9-9-1945. Trước cảnh nồi da xáo thịt đau xót này, đồng bào Đông Sơn – Thường Phước chấp hành chỉ thị của Tỉnh ủy ra sức thuyết phục, không gây đổ máu. Nhưng một số tín đồ cuồng tín, bị lừa gạt là đi dự lễ “rước thầy”, súng cộng sản không nổ do phép của đức Thầy.

Ta rất khoan hồng với số tín đồ vốn là nông dân nghèo lao động, xử lý nghiêm minh với bọn đầu sỏ phản động, đồng bào theo đạo Hòa Hảo đã hiểu ra chính sách đại nghĩa, nhân đạo của Đảng, một số quay lại ủng hộ ta.

Ngày 23-9-1945, giặc Pháp chiếm Sài Gòn, tiếng súng kháng chiến của Nam bộ đã nổ; ngày 26-9-1945 Hồ Chủ tịch gởi thư kêu gọi đồng bào Nam bộ đứng lên kháng chiến. Người khẳng định: “chúng ta nhất định thắng lợi, vì chúng ta có lực lượng đoàn kết toàn dân, vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa”.

Ngày 30-10-1945, chúng đánh chiếm thị xã Cần Thơ. Chi bộ Đông Sơn – Thường Phước đáp lời Cụ Hồ phát động nhân dân chuẩn bị đánh Tây, trong tình cảnh kinh tế kiệt quệ, cơm chưa no, áo chưa lành. Người dân Đông Phước lại nóp với giáo mang ngang vai, tầm vông vạt nhọn, quần bô áo vải hiên ngang chiến đấu trên đường phố Cần Thơ, Cái Răng, Phụng Hiệp suốt 70 ngày đêm oai hùng, nhiều gương chiến đấu hy sinh, dũng cảm. Đồng bào Đông Phước hăng hái đắp cản: Cản Bà Vèn tiếp sau là cản đất, cản vàm Cái Muồng, cản Ngã Sáu, cản Ngã Cạy, cản Mương Trắc, vàm Cái Đôi, phá đường đào lộ ngăn chặn giao thông địch.

Phụng Hiệp được tăng cường cán bộ lãnh đạo, những viên ngọc quý từ Côn Đảo đã trở về.

Để chuẩn bị kháng chiến, trước tình hình khó khăn, thực hiện lời kêu gọi của Trung ương Đảng, của  Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Cần Thơ phát động “Tuần lễ vàng” để mua súng đạn. Nhiều cụ già, phụ nữ hiến cả bông tai, nhẫn cưới. Tiếp theo là “tuần lễ đồng chì thau”, để làm vũ khí; bà con hiến cả nồi đồng, mâm thau, bộ lư đồng, chân đèn đồng đang thờ ông bà, ống ngoáy trầu; đây là cử chỉ cao đẹp vì nghĩa lớn dân tộc.

Một niềm vui lớn, Mặt trận Việt Minh xã Đông Phước ra đời tại Kinh Mới do ông Bảy Chưởng (Chủ tịch), ông Bảy Thọ (Phó Chủ tịch), ông Tám Đường (Ủy viên) Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Đông Sơn là ông: Bảy Chưởng, xã Thường Phước là ông Lương Minh Lường.

Dồn dập tin vui, ngày 12-11-1945, trận chiến thắng hóa trang đánh kỳ tập của đội cảm tử Lê Bình vào bọn chỉ huy giặc Pháp ở Cái Răng, tại Nhà việc Thường Thạnh diệt một số tên, bắn trọng thương tên quan ba Rouen.

Ngày 25-12-1945, ngày hội lớn dân tộc, ngày bầu cử quốc hội đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Do tình hình chiến tranh Chính phủ quyết định cho Nam bộ tiến hành trước 10 ngày. Lớp lớp người giương cao cờ Tổ quốc, trương băng khẩu hiệu, hát vang “hãy đi bầu, chúng ta cùng đi, nam nữ đi bỏ thăm, thi hành quyền tự quyết”. Đạp bằng mọi phá hoại của địch, cuộc phổ thông đầu phiếu thành công tốt đẹp.

Đầu tháng 1-1946, cộng hòa vệ bình diệt hai xe trên lộ Tầm Vu, tên quan năm Dessert chỉ huy trưởng chiến trường miền Tây, là tên sĩ quan cao cấp đầu tiên của cuộc chiến Đông Dương bỏ mạng trên đất Cần Thơ.

Phong trào chống giặc dốt làm vui xóm làng với tiếng đánh vần ê a, với câu hát vui:

Cô kia má đỏ hồng hồng

Vì không biết chữ nên chồng cô chê

Người biết nhiều dạy người biết ít, người mới biết dạy người chưa biết. Con cháu dạy ông bà mang kiếng soi, đồ từng chữ.

Lớp học bình dân ban đêm lấy trăng làm đèn, lấy than thay bút, lấy bẹ chuối thay giấy. Sau buổi học, già trẻ say sưa ca hát, bàn chuyện ngày mai sản xuất, xây làng chiến đấu.

Phong trào giảm tô, giảm tức từ 25% đến 50%, hiến đất cho cách mạng để cấp cho nông dân được hưởng ứng tự nguyện. Phần lớn địa chủ là loại nhỏ, có lòng yêu nước được đảng viên ta khéo léo vận dụng đường lối giai cấp, giúp họ giác ngộ từ bỏ giai cấp đối kháng hăng hái chấp hành chính sách. Trong số này có số trở thành đảng viên như: Bộ Kịa Lê Bộ Tư, hay thành cán bộ cách mạng như Liễu Quốc Trường, Chủ tịch xã Thường Phước (1952), Hà Chí Tôn (Phó Chủ tịch) và con cháu họ đi kháng chiến. Ông Đặng Ý Chợ (huyện Chợ) hiến 1.200 công đất.

Ta phát động phong trào cải tạo đất vườn, hướng dẫn làm bao ngạn, đào kinh mương nên đời sống khá giả lên.

Nạn rượu chè, mê tín, đồng bóng lùi dần trước ánh sáng văn hóa (đời sống mới), nhà không cần đóng cửa, ghe xuồng, cây trái không cần giữ, xóm ấp thương yêu đùm bọc nhau.

Sau khi lực lượng ta tạm rút về U Minh, đảng viên cán bộ Đông Phước vẫn về với dân bám trụ. Phải chăng, đây là truyền thống bám trụ suốt 30 năm qua hai cuộc kháng chiến, nổi bật nhất là thời kỳ đánh Mỹ của chi bộ, bí thư, cấp ủy và đảng viên Đông Phước.

Bây giờ, xin đọc truyện kể của người Đông Phước đánh Tây, người thanh niên Lê Văn Thượng (Năm Thượng) sinh năm 1925 tại ấp Phước Long, công nhân nhà máy xay, 1945 là thiếu trưởng thanh niên tiền phong. Vì bực tức, không chịu nổi sự ngang tàng phá phách của giặc, anh tập hợp một số thanh niên trong ấp để trừ gian diệt tề. Trong nhóm có anh Văn viết truyền đơn rất đẹp, nhờ vợ chủ tịch Chưởng (Đông Sơn) mua bút giấy, rau câu để Giáo Quân in truyền đơn phân phát cho Mười Điểm, Mười Nỉ rải ở Cầu Xéo dài vô chợ Cần Thơ.

Nhóm chỉ có một súng Rulô của anh Ba Xồi tức Lương Minh Chương em Lương Minh Lường (Chủ tịch xã Thường Phước).

Anh Năm Thượng chạy sang xã Phú Thứ gặp chỉ huy đội Sát gian Đảng là Hoàng Hà để bàn cách phối hợp, có khi mượn súng mi trai dết. Dần dần gây dựng tiền thân Quốc vệ đội của Cần Thơ có: Lê Văn Thượng chỉ huy, gần 30 đội viên (đa số ở Đông Phước). Có một súng Rulô, một súng mút, lựu đạn nhôm phải đập, tầm vông, mã tấu, ná lẫy, phi tiêu.

Trận đầu tiên, bắn chết một lính Tây vô bắt gà nhà ông Qúy, máy bay rà bắn tới phủ Thờ.

Trận thứ hai, du kích Đông Phước cùng cộng hòa vệ binh Cà Mau đánh tàu lửa Cần Thơ ghé sát vào bờ diệt một số tên.

Quốc vệ đội đánh thằng tây Roobe – con của chủ điền tây La-Bách, lấy 1 carbine, 3 súng trường. Ty công an Cần Thơ ra đời, lập Quốc vệ đội.

Quốc vệ đội bây giờ (dân gọi là bộ đội 5 Thượng) đã có colt 12 ly của Năm Thượng, 2 carbine của Cao Thanh Đời và 6 Gan, mi trai dết, phục kích tại Nhà việc Thường Phước (đã bị phá), đánh cả tiểu đoàn Tây và lính đầu đỏ.

Ta nổ súng đồng loạt, rồi đánh cản hậu. Bọn địch phải lấy hết hòm của trại hòm Mười Đài chôn thây. Sau đó, đánh lính Hòa Hảo giải vây cho đồng chí Trương Văn Quá (Ba Rế), Phạm Kim Tòng (Mười Trấn), cán bộ Tỉnh ủy tại cầu Cái Sâu (Đìa Xoài).

Cuối 1946-1947, bộ đội Ngô Hồng Giỏi đánh thằng tây Na-Bê dẫn tiểu đội lính đi bố, thu toàn bộ vũ khí, vài tên lính băng đồng, dân quân rượt theo cướp súng. Trận này có mặt anh Ba Thọ, Ủy viên quân sự của xã Thường Phước.

Để thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy đẩy mạnh vũ trang, ta đánh thắng trận Tầm Vu II vào 8 giờ sáng 3-5-1947. Trận này ngoài lực lượng chính là Vệ quốc đoàn, còn dân quân du kích (có du kích Đông Phước) và Quốc vệ đội Cần Thơ, anh Năm Thượng bắt được tên trung úy Pháp đội Bê rê đỏ đi xe jeep đầu. Thắng trận kéo về Ông Hào (Trường Long) đồng chí Chỉ huy trưởng Huỳnh Phan Hộ, Khu bộ trưởng Khu 9, gắn thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh cho đơn vị và chiến sĩ trong lễ mừng công. Đây là trận giao chiến vang dội, còn âm vang mãi trong lòng người Cần Thơ và cả nước bài hát Tầm Vu, nhạc: Đắc Nhẫn, lời: Quốc Hương.

Tháng 8-1946, một sự kiện chính trị quan trọng: Cuộc hội nghị thành lập Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến lâm thời của Tỉnh Cần Thơ tại nhà ông Thái Văn Hiệu ở ấp Phước Hưng, mương Ông Như ở vàm Ngã Cạy (Đông Phước).

Theo lời kể của ông Năm Thượng là đồng chí Nguyễn Xuân Mai (Mai Chí Thọ), gọi ông Năm Thọ về vùng Phụng Hiệp dự hội nghị, nhưng hai địa điểm hội nghị đều bị lộ. Ông Năm Thượng tổ chức đưa hội nghị về Đông Phước. Hội nghị có mặt đồng chí Nguyễn Truyền Thanh (Ba Lê) được bầu là Bí thư Tỉnh ủy, Trần Ngọc Quế phụ trách Ủy ban kháng chiến, Trần Văn Hoài (Hoài U) phụ trách quân sự. Nguyễn Minh Hạnh phụ trách Mặt trận Việt Minh tỉnh, Lương Chí phụ trách nông dân, chị Tấn phụ trách phụ nữ, Hoàn Trung Thực phụ trách thanh niên, Mai Chí Thọ phụ trách công an, Chín Hà phụ trách giao thông liên lạc.

Hội nghị an toàn dưới sự lo lắng, giúp đỡ của chi bộ và đồng bào. Ông Năm Thượng được Mai Chí Thọ phân công: trưởng Công an huyện Châu Thành.

Khi lực lượng ta từ U Minh trở về đồng chí Trần Văn Hoài đưa một tiểu đội Vệ quốc đoàn về hỗ trợ cho Đông Phước phát triển phong trào du kích. Ở ấp Phước Hòa đã có trung đội dân quân tự vệ do anh Lê Thành Trung chỉ huy (sau này tháng 10-1947 anh được kết nạp vào Đảng, năm 1951 là Bí thư chi bộ Thường Phước).

Nổi bật là anh Cự du kích ấp Long An và Rạch Kết, mỗi lần anh chạy té xuống là gài xong ngay trái lựu đạn.

Như vậy từ năm 1946-1947 Đảng bộ lãnh đạo nhân dân Đông Phước liên tục xây dựng lực lượng từ tay không, với lòng căm thù cao độ, họ biết sáng tạo vũ khí thô sơ, tổ chức cướp súng địch, diệt tề, trừ gian, đánh du kích chống càn. Quân thù khi xét giấy biết là dân Đông Phước thì làm khó dễ tuy rất ngán sợ.

Từ năm 1947-1949-1950

Năm 1947, do yêu cầu của chiến trường, Huyện ủy quyết định sát nhập Đông Sơn – Thường Phước do đồng chí Phạm Chủ Lực (Năm Mỹ) làm Bí thư thay đồng chí Bảy Thọ rút về trên, Năm Hưởng về Phú Hữu, chi bộ có 20 đảng viên, chi ủy có 5 đồng chí, cơ quan đóng tại kinh Hai Phó.

Sau đó Mặt trận Liên Việt ra mắt tại vàm Xẻo Chồi, ông Nguyễn Thành Thị (Hai Thị) làm Chủ tịch, ông Chín Sửa (đại diện Cao Đài) cùng 5 thành viên khác. Khối đại đoàn kết được mở rộng, nhiều nhân sĩ, trí thức, địa chủ xin vào hội. Đầu năm 1948, đổi tên Ủy ban kháng chiến thành Ủy ban kháng chiến hành chính, do ông Bảy Chưởng làm Chủ tịch, ông Tám Đường là Phó Chủ tịch và 6 Ủy viên Ba Thọ (Xã đội trưởng) sau đó ông Nguyễn Tấn Nhuận thay làm Chủ tịch.

Như vậy, Đông Phước được kiện toàn bộ máy lãnh đạo, nâng phong trào lên ngày càng cao một cách toàn diện.

Các đoàn thể cách mạng hoạt động có chất lượng như: Nông dân cứu quốc, Ban chấp hành phụ nữ xã do bà Hai Trinh, sau đó là bà Kim Chi làm trưởng ban (các ấp điều có tổ phụ nữ), thanh niên cứu quốc do ông Lê Đình Thu phụ trách. Lực lượng du kích phát triển nhanh có từ hai đến ba tiểu đội, sức sản xuất phát triển, cuộc sống mọi mặt lên dần, vùng giải phóng vững chắc.

Chi bộ và chính quyền chăm lo về y tế, ăn ở vệ sinh, phòng bệnh, có thuốc tây, thuốc nam trị bệnh. Giáo dục xóa dần nạn mù chữ, tri thức cán bộ rộng hơn, công tác hiệu quả. Tiếng hát, câu hò, vè kháng chiến vang lên dưới dòng sông sáng ánh trăng, làm ấm lòng người, đem lạ niềm vui và sức sống trong tâm hồn làm khắn khít tình quân dân. Những đêm văn nghệ ở khán đài Đông Sơn cả ngàn người xem, không sợ obus của đồn Cả Bảo dội xuống.

Năm 1948, du kích xã phối hợp với Quốc vệ đội và bộ đội Ngô Hồng Giỏi tiêu diệt đồn Hòa Hảo ban ngày ở Cái Muồng đóng tại nhà chủ Xướng. Ta vây đồn một tuần. Anh Giao chỉ huy Vệ quốc đoàn của Cần Thơ chặn đường Đất Sét. Anh Năm Thượng, Quốc vệ đội chặn từ Bờ Dầu ra Cái Chanh đánh tàu Tây vô cứu viện.

Tiếp đến đại đội 1085, do Trần Ngọc Trúc chỉ huy pháo kích từ Rạch Vông ra Xóm Chài (ngang chợ Cần Thơ).

Tháng 6-1947, tên xếp Tây NaBê, dẫn một tiểu đội hành quân bằng tam bản bắt Chủ tịch Bảy Chưởng, cán bộ Ba Dung giải về Cái Răng.

Đội du kích cùng tiểu đội Vệ quốc đoàn tăng cường cho Đông Phước đánh giải cứu, diệt 12 tên, có Tây NaBê, thu 12 súng.

Ngày 30-8-1950, ta đánh úp đồn Phước Long diệt 20 tên. Vây đánh đại đội 17 Hòa Hảo ngoài đồng, đánh xáp lá cà bằng báng súng, diệt 20 tên. Dân rượt chúng tới bót Rau Cần  mót thêm ít súng.

Tên cò Jacquemain, dẫn lính từ thị xã Cần Thơ đi bố có xe lội nước. Chúng mặc đò đen, quấn khăn rằn giả bộ đội của ta, bị đại đội 1085, anh Giao chỉ huy đón đánh ở ấp Phước Hưng.

Từ tháng 3-1951, đồng chí Lê Đình Thu là Phó Bí thư kiêm Chính trị viên, Xã đội Thường Phước, đồng chí Thiểu làm xã đội trưởng đã hy sinh, đồng chí Lê Văn Som lên thay. Xã đội có một tiểu đội du kích cơ động. Đồng chí Nghĩa là Tiểu đội trưởng, đội viên có anh Ấn, Đê, Tính… trang bị 3 súng mút Nga, một mút Anh, một Lebel và nhiều lựu đạn ném, lựu đạn gài.

Thường kết hợp với trung đội ba, đại đội 1090 đánh bọn Com măng đô Cái Tắc biệt kích vùng, và bọn lính Hòa Hảo; làm rào chiến đấu gài trái, chúng sợ không vô được. Còn qua lộ Đông Dương gài lựu đạn chặn bọn chúng tuần tiễu. Bọn này rất ngán lựu đạn giật dây luồn trong cỏ, phải cho lính xuống ruộng rà tìm mới dám đi.

Vào năm 1952, tiểu đoàn 308 về đóng Xẻo Cách (ngọn Cái Đôi) đem theo súng DKZ để đêm sau hạ đồn đại đội Hòa Hảo 17 ở Ngã Sáu. Sáng chúng kéo nhau ra khỏi đồn đi ruồng. Tiểu đoàn 308, dân quân đánh bật chúng chạy về đồn bỏ lại 20 mạng, ta thu hơn 10 súng, trận này đội du kích chặn phía kinh nhỏ ngọn Ông Hoạch. Trung đội ba giữ mặt Cái Nhum (lộ xe).

Đội du kích giải thoát cho một số cán bộ xã Thường Đông tạm lánh qua Xẻo Cách ngọn Cái Đôi.

Về binh vận cũng đạt nhiều kết quả. Tên Đê con Hương Hào Dậu ra hàng mang theo một mút Anh.

Đồng chí Lê Đình Thu, viết thư binh vận rất nhiều cho từng đối tượng. Ông Hai Khỏe và Năm Thiệt rải truyền đơn rồi đưa thơ cho tên tiểu đội trưởng trong đại đội 6 Hòa Hảo đóng Ngã Cạy.

Tên Vận và hai lính đưa quần áo ra trước hẹn 3 đến 4 giờ sáng sẽ ra. Ta đợi và cảnh giác vừa rút về thì chúng đi ra gặp trung đội 3, nộp 6 súng và nhiều đạn, ta chia trung đội 3 ba khẩu, du kích ba khẩu.

Để bảo vệ đường liên lạc huyết hạch của ta ngang qua kinh Hai Phó mới đào, từ xã Đông Phú, Thạnh An qua Thường Phước rồi qua lộ Đông Dương về tỉnh, về khu, ta vận động lính đại đội 17 đóng Ngã Sáu, ông Năm Khanh nắm được ý nguyện của Trung đội trưởng Vực muốn gặp ta. Đồng chí Lê Đình Thu gặp Vực. Hai bên chuyện trò, tên Vực đắc chí, lần sau kéo theo tham mưu Mười gặp ta, và hứa không phá đường dây của ta, còn cùng đồng chí Thu ngồi ghe hàng của ta nghi trang nồi đất ở trên chuyển qua lộ.

Ta làm ngã rũ năm tên, còn lại hai tên cài lại phục vụ yêu cầu của ta.

Thời gian này, phong trào lên toàn diện, nhất là phong trào văn nghệ sôi nổi. Nhạc sĩ Hoàng Lưu từ Cần Thơ về xã viết bài hát “Du kích giữ làng” được bà con hát nâng khí thế xã nhà.

Anh Nguyễn Phước Tống, người ấp Phước Hòa (đảng viên 1948) đi bộ đội Ngô Hồng Giỏi từ tháng 10-1946, anh đã tham gia đầy đủ 4 trận Tầm Vu. Anh kể lại trận đánh lính trung đoàn 5 tại vàm kinh Nhỏ (1950) của trung đội 3, đại đội 1090 phối hợp với du kích Đông Phước – được tin xã đội trưởng báo là Hòa Hảo đi càn nhưng thật là một tiểu đoàn của sư đoàn 5, ta đánh chúng tại Mỏ Neo, tiêu diệt 8 tên. Địch đi từ cầu ông Hoạch bọc hậu ta diệt thêm 6 tên.

Từ 1949-1950, sau thất bại nặng nề ở chiến trường Việt Bắc quân viễn chinh Pháp đành chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, “dùng người Việt đánh người Việt”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” mong cứu vãn tình thế nguy ngập.

Địch xem Châu Thành là địa bàn trọng yếu của Cần Thơ, và Cần Thơ là địa bàn trọng yếu của miền Tây Nam bộ. Địch bắt lính lập các tiểu đoàn thân binh, vũ tranh trong Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, tô dày đồn bót để chốt chặn, càn quét các xã ven đô thị xã Cần Thơ, chúng muốn ngăn cắt con đường độc đạo từ Khu 9 về tỉnh Vĩnh Trà, về Khu 8 đi ngang Đông Phước.

Vào cuối tháng 9-1949, thi hành nghị quyết hội nghị khoáng đai của tỉnh, Phụng Hiệp giao xã Đông Sơn và Thường Phước về huyện Châu Thành (nằm trong vùng 6 xã ven thị xã Cần Thơ).

Đông Phước phát huy chiến đấu, củng cố vững chắc căn cứ vùng giải phóng phát triển nhiều mặt, đời sống sản xuất, xây dựng chính quyền ngày càng vươn cao.

Từ 1951 - 1952

Ở chiến trường Bắc Bộ, ta liên tiếp tiêu diệt sinh lực địch như chiến dịch Hòa Bình ở Tây Bắc (tháng 2-1952) đã dồn địch vào thế bất bại, tinh thần hoang mang đến cực độ.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Đảng từ 11 đến 19 tháng 2 năm 1951. Đại hội quyết định đưa Đảng ra công khai, đổi tên là Đảng LAO ĐỘNG VIỆT NAM, tạo phấn khởi cho toàn dân tộc niềm tin nhất định thắng.

Đảng ra hiệu triệu cho toàn quân, toàn dân thực hiện khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.

Mùa hè năm 1951, Bộ Tư lệnh phân liên khu miền Tây, mở chiến dịch Sóc Trăng II. Huyện Châu Thành động viên các xã, trong đó có Đông Phước đánh địch liên tục, phá lộ, đắp mô, đốn cây, hạ cột dây thép, chặn đường tiếp diện trên tuyến lộ Cái Tắc – Ban Thạch.

Vào cuối năm 1951, cán bộ đảng viên về bám cơ sở, bám dân vùng địch hậu xây dựng tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng, ấp xã chiến đấu đánh địch nống ra càn quét.

Hai chi bộ Đông Sơn – Thường Phước phát triển hơn 100 đảng viên được xác định là xã có du kích chiến tranh mạnh, công tác binh – địch vận giỏi làm suy yếu tan rã hàng ngũ địch.

Ta mở lại các trạm xuất nhập thị, trao đổi hàng hóa giữa hai vùng để giả quyết đầu ra cho nông sản thực phẩm (lúa gạo) đồng thời mua được những hàng cần thiết nâng cao đời sống, phục vụ cho chiến đấu như: dầu thắp sáng, thuốc trị bệnh, nguyên liệu cho xưởng sản xuất vũ khí. Đến năm 1952, tiếp tục cấp đất cho nông dân, các vùng đều đóng thuế nông nghiệp nhiều, lạc quyên cho cách mạng cao nhất, phong trào văn hóa – văn nghệ, y tế, giáo dục được khôi phục và phát triển ở Đông Phước, các đội văn nghệ, đội thông tin tuyên truyền lao động vào vùng ven gần đồn địch, đồng bào càng tin tưởng cách mạng. Phòng thông tin của huyện tại ngã tư Đông Sơn do đồng chí Phạm Trọng Yêm (Chín Công, Trưởng phòng thông tin huyện Châu Thành xây dựng từ lâu) thì nay càng hấp dẫn hơn với hình ảnh chiến thắng, với lời ca tân cổ ngợi ca chiến công Đông Phước, với tiếng đàn tân cổ hòa điệu của violon, tây ban cầm, kèn ác-mo-ni-ca, tiếng đàn guita móc máng, đàn kìm, đàn cò, trống phách tươi trẻ, hùng hồn.

Phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, lực lượng du kích Đông Phước được nhận cờ “chiến sĩ thi đua” cấp huyện và tỉnh.

Không khí chuẩn bị tổng phản công ở Đông Phước rất rầm rộ, toàn diện. Đông Phước xứng đáng là nơi giữ vững đường liên lạc cho khu, nơi đứng chân cho bộ đội lớn cấp đại đội (1085-1090), cấp tiểu đoàn (Tây Đô), cấp trung đoàn (122 Ngô Hồng Giỏi) là hậu cứ an toàn cho các bộ phận Khu ủy, Tỉnh ủy, Thị xã ủy Cần Thơ, Huyện ủy Châu Thành – Phụng Hiệp, nơi cung cấp nhiều nhân lực, tài lực ngày càng dồi dào, biểu hiện tinh thần bám trụ, tình dân nghĩa Đảng.

Từ 1953 - 1954

Năm 1953, Pháp cho Mỹ nhảy vào Đông Dương, Mỹ đưa tướng Nava với kế hoạch Bình Định 18 tháng.

Bộ chính trị Đảng ta đề ra phương châm chiến lược trong Đông Xuân 1953 nghị quyết đại hội đại biểu tỉnh Cần Thơ lần thứ ba (4-1953) đã động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ mới.

Đông Phước vươn lên đánh địch, bao vây đồn, đẩy mạnh mũi binh vận, đồng thời hưởng ứng tuần lễ lạc quyên; có người ủng hộ gần hết tài sản gia đình. Đông Phước dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy Phụng Hiệp xông lên tiến công hưởng ứng chiến dịch Điện Biên Phủ, nâng cao uy thế chính phủ ta trên bàn Hội nghị Genève. Đông Phước bao vây, tiêu diệt 14/19 đồn bót, vùng giải phóng ta mở rộng đến đâu thì tịch thu ruộng đất của Pháp, của địa chủ phản động tạm cấp cho nhân dân đến đó.

Ngày 7-5-1954 tướng Pháp De Castrie đầu hàng tại Điện Biên Phủ.

Ngày 20-7-1954, Hiệp định Genève được ký kết một cách thắng lợi về ta.

Ngày 1-8-1954, tiếng súng đã ngưng bắn. Đảng bộ Đông Phước vận động nhân dân tham gia cuộc biểu tình lớn vào thị xã Cần Thơ hô vang khẩu hiệu “hoan hô hòa bình”, “hoan hô Hiệp định Genève”, “hoan hô đình chiến ở Đông Dương”, “Việt Nam độc lập muôn năm”. Nhân dân phấn khởi đi mít tinh, hội họp nghe giải thích thắng lợi của Hiệp định Genève. Đảng bộ tăng cường giáo dục đảng viên, cán bộ, nhân dân về tình hình nhiệm vụ mới, về âm mưu thâm độc của kẻ thù để tránh ảo tưởng hòa bình, chuẩn bị ý chí đấu tranh. Đảng viên cán bộ quán triệt tư tưởng đấu tranh cách mạng lâu dài, đi tập kết hay ở lại đều vình quang. Đảng viên, cán bộ, ngày đêm lao vào công việc tạm cấp ruộng đất, xây dựng đời sống cách mạng ở nông thôn như trường học, trạm y tế, nhà bảo sanh, đào tạo cán bộ các ngành.

Nổi nhất là phong trào văn nghệ, các đoàn ca múa đã gieo vào lòng người dân ở đây một tình cảm yêu thương Đảng và Bác, một niềm tin ngày mai, còn giác ngộ được một số binh lính ngụy quyền.

Trong thời gian ngắn, đảng viên cán bộ, bộ đội đã để lại trong tim người “tình dân nghĩa Đảng”, là hành trang quý báu có một không hai trên con đường tranh đấu với kẻ thù giàu nhất và tàn bạo thâm độc nhất thế giới.

Dân tộc Việt Nam đã đập tan gồng xiềng nô lệ 80 năm, người dân Đông Phước ngẩng cao đầu với tư thế anh hùng cách mạng thời đại Hồ Chí Minh.

 

PHẦN THỨ TƯ

21 NĂM KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

CỦA ĐẢNG BỘ, QUÂN DÂN XÃ ĐÔNG PHƯỚC

 

CHƯƠNG VIII

CHUYỂN HƯỚNG TỪ ĐẤU TRANH VŨ TRANG SANG ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ. TIẾN ĐẾN CAO TRÀO ĐỒNG KHỞI ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH ĐƠN PHƯƠNG CỦA ĐẾ QUỐC MỸ 26/7/1954-12/1960

 

Ngay những ngày đầu khi Hiệp định Genève được ký, đế quốc Mỹ, cùng tên đầy tớ Việt gian Ngô Đình Diệm đã thực hiện âm mưu thâm độc phá hoại hiệp định, hòng đánh phá cách mạng miền Nam. Chúng đưa quân ào ạt đóng đồn bót dày đặc, thiết lập bộ máy kìm kẹp đến tận xã ấp, phân vùng gom dân hòng tát dân tách rời Đảng. Ngoài lực lượng ngụy quyền, chúng còn lợi dụng quân đội Cao Đài, Hòa Hảo, tha hồ khủng bố cướp bóc. Ở nông thôn chúng dùng bọn Việt gian, bọn địa chủ phản động ngốc đầu dậy, bọn gián điệp tạo thành màn lưới vây ép đồng bào ta.

Thâm độc hơn, chúng tung hàng thừa ế của Mỹ, tạo ra bộ mặt phồn vinh giả tạo hòng lừa mị, và đưa đời sống người dân vào đường trụy lạc, đồng thời đầu độc dân ta bằng các thuyết “Cần lao nhân vị”, với “Chiêu bài quốc gia độc lập” chống cộng sản.

Nông thôn bao trùm tang thương, nhiễu thương, trong lòng người dân đang âm ỉ ngọn lửa căm thù, trái tim luôn hướng về Đảng.

Từ năm 1954-1956, Đảng ta chủ trương: “Củng cố xây dựng, phát triển lực lượng, chuyển hướng phương châm, phương thức hoạt động, phát động quần chúng đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh dân chủ, đòi nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Genève, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà”.

Xứ ủy Nam bộ đã sáng suốt bố trí đảng viên trung kiên ở lại miền Nam bám dân chiến đấu, mà bà con ta mến thương gọi là “hột gạo cội”.

Từ năm 1954-1956 là đoạn đường đầy cam go, cũng là trận đầu tiên nhân dân miền Nam thắng chiến tranh đơn phương của bọn xâm lược Mỹ. Cầm súng đối mặt với giặc Pháp đã là dũng cảm, nay phải đấu súng, tay không đấu lý trước mũi súng cường bạo bằng chí căm thù, trí thông minh, đó là ý chí tuyệt vời của người dân Nam bộ thành đồng dưới thời đại Hồ Chí Minh.

Đảng viên bám dân, dân bám quê cha đất tổ, đào hầm bí mật, làm vách đôi nuôi chứa cán bộ, nhiều gương hy sinh để bảo vệ đảng viên.

Năm 1954, chi bộ Đông Phước có đồng chí Phạm Chánh Mỹ (Năm Mỹ, bí danh Năm chủ lực) là Bí thư, đồng chí Bùi Tâm Hảo là Phó Bí thư.

Đảng viên có đồng chí Tư Hậu, Năm Hoài, Hai Thị, Sáu Lường, Tám Tổng, Năm Diệu, Sáu Ngôm, Bảy Lập, Năm Gộc vv… Lúc đầu đồng chí Sáu Ngôm phụ trách vùng Đông, sau về vùng Phước, đồng chí Bùi Tâm Hảo thay vùng Đông. Đảng bộ bảo vệ an toàn cho các đồng chí Liên Tỉnh ủy: đồng chí Sáu Dân (Võ Văn Kiệt), đồng chí Ba Bài, đồng chí Tám Xuyến (Tám Dênh Dênh).

Đảng bộ phân loại đảng viên A, B, C, thể hiện tầm nhìn đỉnh cao của Đảng Mácxít chân chính để bố trí nâng cao chất lượng của đảng viên. Để phù hợp cuộc chiến đấu, ta có đảng viên bí mật, hợp pháp, đơn tuyến cả đảng viên cài vào lòng địch.

Địch rất lo sợ Đông Phước, với vị trí quan trọng và truyền thống đấu tranh, nên xua lính Hòa Hảo đóng đồn: đại đội 17 ở Ngã Sáu, đại đội 6 và 7 đóng ở Cái Muồng và xung quanh, tề xã ở Cầu Dừa. Bọn này ăn cướp lúa, cướp tài sản, vơ vét tới thượng vàng hạ cám.

Chi bộ chọn một số cốt cán đưa vào tổ chức địch như đồng chí Nguyễn Thành Thị làm Hội đồng hương chính xã, đồng chí Hai Cơ làm Hương quản, đồng chí Sáu Thu phụ trách tài chính, đồng chí Bảy Giàu phụ trách nông nghiệp. Nhờ đó ta nắm được để đối phó ý đồ của địch, tề ta cấp giấy tờ hoạt động hợp pháp cho cán bộ ta.

Song song, ta lập tổ chức hợp pháp như: hội cứu tế, phụ nữ nghiệp đoàn nông dân, tổ vần đổi công để tập hợp vận động quần chúng đấu tranh. Tháng 2-1955, trận đầu tiên đấu tranh chính trị ra quân, chi bộ phân công: Lưu Thị Ngọc, Huỳnh Thị Mười và Nguyễn Văn Cầu dẫn đầu khoảng 200 người với gậy tầm vông vạt nhọn, liềm phảng, nổi trống mõ, giương cao biểu ngữ, đồng thanh hô khẩu hiệu: “Chống đàn áp khủng bố”, “Chống bóc lột vơ vét”, kéo đến dinh quận Cái Răng. Giặc nổ súng, ta hiên ngang tiến lên, bắt buộc chúng nhận yêu sách và năn nỉ đoàn biểu tình.

Chiến thắng trên làm tiền đề cho hơn 10 cuộc đấu tranh, biểu tình lớn nhỏ, trên 1.000 lượt người đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, từ năm 1957-1960 góp phần với quân dân Đông Phước bẽ gãy, đập tan âm mưu chiến lược của địch.

Địch tăng cường đàn áp. Bắt lập “ngũ gia liên bảo”, lập bảng kê khai gia đình, 16 tuổi trở lên phải làm giấy căn cước, tụ họp quá 3 người phải xin phép, kể cả đám ma, đám cưới.

Đông Phước đã thành công lớn trong cuộc đấu tranh không thi hành chỉ dụ số 2 (ngày 8-1-1955) chỉ dụ số 7 (2-5-1955), của Diệm hòng cướp đất của nông dân được cách mạng cấp trong kháng chiến chống Pháp.

Tháng 5-1955, chúng bày trò hề trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại; Hội đồng hương chính xã Đông Sơn đem thùng thăm nộp cho đồng chí Năm Mỹ, Bí thư chi bộ Đông Phước.

Ngày 26-10-1956, Ngô Đình Diệm chính thức lên ngôi tổng thống, sau khi bịp bợm gian lận bắt ép bầu cử cái gọi là “Quốc hội”. Người Đông Phước gạch toẹt vào mặt Diệm, và viết “Đả đảo Ngô Đình Diệm”, “Đế quốc Mỹ cút đi”.

Từ tháng 5-1955 đến tháng 7-1956 Mỹ - Diệm mở đợt I “Tố cộng”, với chiến dịch Thoại Ngọc Hầu đánh vào căn cứ ta ở Cần Thơ, đồng thời thanh toán lực lượng giáo phái.

Đông Phước là một điểm tiếp nhận quân lính giáo phái đang cùng đường bị Diệm truy diệt. Bà con Đông Phước đã thể hiện tình yêu giống nòi, chánh sách nhân đạo, khoan hồng của cách mạng, lo lắng, giúp đỡ, qua đó đã giác ngộ được một số lính Hòa Hảo, đồng thời ta khôn khéo cài người vào, thuyết phục họ trao một số súng cho ta. Thế là lực lượng võ trang ta được tăng cường để hỗ trợ có hiệu quả cho cuộc chiến đấu và nổi dậy.

Chi bộ đánh giá Thanh niên là lực lượng đầu tàu, xung kích nên phát triển Đoàn Thanh niên Lao động. Tập hợp thanh niên trong các tổ chức công khai biến tướng: Đoàn ca vũ, đội văn nghệ, vạn vần đổi công, đội bóng đá, bóng chuyền.

Ông Bảy Lập (Hai Huỳnh là đảng viên) chỉ đạo Hai Ngọc trực tiếp lập ca vũ hợp pháp. Đoàn có đội nhạc: anh Tám Bướm đàn Violon, anh Mười Thăng đàn lục huyền cầm Ha-uây, Bảy Nhì, Hai Tơ; đội vũ có Ba Bảo, Tư, Tám Liếp, Mười Tao, Bảy Căn, nữ có Út Minh Hương, Ba Oanh, Mai Út Vũ, Năm Ngoạn, Năm Nhỏ (lúc thiếu, anh Bảy Căn đóng vai nữ), anh Ba Bảo dạy múa, sau anh Sáu Ổn về vừa ca, vừa múa làm trưởng đoàn. Múa thì có tiết mục: Mừng Hòa Bình, Lửa Trại Ca, Tiến Côn Vũ, Giải phóng quân nhập thành (những điệu múa này đã có từ năm 1950, thời đánh Pháp).

Điệu múa “Quanh Bác Hồ”, theo lời ca:

“Quanh Bác Hồ kề vai chiến đấu keo sơn

Nguyền theo Bác kiến thiết nước non huy hoàng

Xây kết đoàn từ nam chí bắc – chen vai

Bao gian khổ nắm tay ta vượt qua”.

Khi ra diễn gần đồn địch ở Cái Muồng, ca sĩ Bùi Nhật Ổn (Sáu Ổn) có bài ruột: “Mong người chiến sĩ với lời ca:

Con ơi tình nước sâu hơn – hẹn ngày chiến thắng vinh quang – vẹn toàn chí hướng.

Nữ ca sĩ Bùi Ngọc Yến, hát bài “Lời người ra đi” của nhạc sĩ Trần Hoàn miền Bắc (có sửa lời): Một chiều anh bước đi, em tiễn chân ra tận cuối đồi. Em dặn rằng: Dù sóng gió, dù tù đày, đừng nề gian khổ anh ơi.

Hai bà hát trên vừa đề cao người chiến sĩ cách mạng, vừa khêu gợi tinh thần dân tộc trong sĩ quan lính ngụy, tác dụng binh vận rất lớn. Lời ca điệu múa đã đi vào lòng người, khêu gợi một truyền thống anh hùng, một niềm tin ở Đảng, Bác Hồ giục bước quân dân đạp bằng khó khăn để chiến thắng.

Cuối năm 1955, chính sách đầu độc của Mỹ - Diệm khuyến khích nạn cờ bạc, rượu chè, trụy lạc sinh ra nạn trộm cướp.

Chấp hành sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, chi bộ nhanh chóng thành lập các “tổ chống cướp”. Thực chất là tổ chức vũ trang thô sơ của quần chúng chống bọn lùng sục xom hầm bắt cán bộ, bảo vệ đảng viên rất có hiệu quả. Đội du kích mật Đông Phước có: Út Oanh, Thép, Ba Ca và Sáu Ổn.

Như vậy từ năm 1954-1956, chi bộ đã chỉ đạo, phát động nhân dân vượt qua gian lao nguy hiểm thắng từ bước trong chiến tranh đơn phương của Mỹ - Diệm.

 

CHƯƠNG IX

TỪ NĂM 1956-1960, THỜI KỲ CỰC KỲ KHÓ KHĂN, THỬ THÁCH, ĐẢNG BỘ VÀ QUÂN DÂN ĐÔNG PHƯỚC ĐỨNG LÊN LÀM CUỘC ĐỒNG KHỞI VẺ VANG

Ngày 20-7-1956 Mỹ - Diệm tuyên bố cự tuyệt Hiệp thương tổng tuyển cử, hô hào “Bắc tiến”, “Lấp sông Bến Hải”, khủng bố ác liệt với cả lòng hận thù giai cấp, chống cộng quyết liệt rất điên cuồng đầy ngu xuẩn. Chúng mang ảo vọng xóa căn cứ cách mạng, trong đó có Đông Phước.

Chúng bắt ép úp bộ vào “Thanh niên cộng hòa” “phụ nữ liên đới” của mụ Trần Lệ Xuân liên tiếp, tổ chức tố cộng. Một lũ đầu trâu mặt ngựa, súng lăm le trên tay, dọa dẫm đánh đập, bắt dân nói xấu cộng sản. Dân Đông Phước hiên ngang, bình tĩnh biến thành cuộc tố ngược lại Mỹ - Diệm. Bà con nói: Việt cộng cũng là người Việt, đánh Tây giành độc lập, còn cấp đất cho dân cày, họ “hại” cho dân no ấm. Còn ông Diệm từ Mỹ về, lính quốc gia cũng thương dân đến nổi gà vịt, quần lãnh rách giấu cũng không còn, để gom dân vô khu trù mật, ăn đồ hộp của Mỹ nuốt hổng trôi. Sướng vậy, sao mấy người không gom gia đình vô khu mà hưởng.

Đến bây giờ, người dân còn thích thú những câu trả lời của ông Ba Ngọng bị bắt đi tố cộng ở Phụng Hiệp.

Tên sĩ quan ngụy nói: Việt cộng thường ăn cám không.

Ông Ba trả lời: Cám từ gạo ra, Việt cộng ngu gì xay gạo ra cám dể ăn. Yêu cầu ông đừng bắn phá nữa.

Tên sĩ quan quay nòng pháo bắn xã khác.

Ông Ba tức giận: ụ, ẹ - ông bắn ở đâu cũng chết bà con tao hết.

Những câu ấy tuy đơn giản mà lòng gan dạ sắt của người nông dân Đông Phước đã khuất phục được kẻ thù.

Đồng bào kiên quyết ngăn chặn ý đồ dã man của chúng ép, bắt bớ, tù đày, bắn giết những gia đình có người đi tập kết, đi kháng chiến, và rất thông minh lẫn tránh không nhận giấy “Qui thuận”, đầu hàng giặc. Dù có đếm nỗi hết cây rừng, cũng không kể xiết tội ác tày trời của Mỹ - Diệm đày đọa gia đình kháng chiến. Chúng đặt những gia đình này ra ngoài vòng pháp luật, tha hồ cướp bóc, cấm đoán không cho qua lại làm ăn, từ dụ dỗ trở mặt bắt bớ, giam cầm, nay đòi lên tra hỏi, mai bắt lên hù dọa. Thâm độc hơn là chúng bắt dân lên tập trung xung quanh đồn hòng làm bia chắn để ta không tấn công chúng; chúng bắt vợ phải ký giấy ly hôn bỏ chồng, cha mẹ ký giấy từ con.

Bỉ ổi hơn, chúng treo giải thưởng cho bọn tay sai lấy được vợ cán bộ, sẽ được ăn lương một năm, nghỉ phép đi chơi. Ảo vọng cuồng ngông hòng nhốt cú vọ chung với phượng hoàng của chúng tan thành mây khói trước ngọn lửa căm thù từ lòng trung trinh của phụ nữ Đông Phước.

Để trả đũa lại bọn tâm lý chiến, để phát động căm thù với truyền thống “Tiếng hát át tiếng bom” Đoàn cải lương xã đã cho ra đời vở “Ngày Tàn Bạo Chúa”, tác giả là ông Năm Gộc (đảng viên phụ trách hai ấp Phước Thuận, Phước Long).

Kép mùi là Hai Mỹ, đào mùi là cô Hai Huyền Nữ, kép độc là Sáu Ổn vai tướng ác Lương Hoàng. Vì tuồng này lên án sự tàn ác bạo chúa mà người xem hiểu ngầm là chửi chế độ Mỹ - Diệm nên bọn tề, cảnh sát không cho diễn. Ông bầu Trực, bầu Bảy Lập đấu lý, cuối cùng vì sức ép của đồng bào hâm mộ, chúng phải cho diễn tại khán đài Đông Sơn – Đồng bào chửi rủa tên tướng Lương Hoàng quá ác và rất hả dạ khi hắn đền tội.

Sau đêm diễn, ông Sáu Ổn phải rời đoàn vào du kích mật, vì địch tìm bắt anh.

Tháng 8-1958, du kích Đông Phước cùng lực lượng vũ trang huyện Châu Thành đánh địch trên tuyến Cầu Dừa (Đông Phước), giải thoát đồng chí Bạch Thái An (Năm Già, trưởng phân ban huyện Châu Thành).

Đầu năm 1959 Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 2), chuyển thế và lực lượng cách mạng từ bị động trong đấu tranh chính trị, hình thành thế trận 3 mũi giáp công: chính trị, vũ trang, binh vận tiến công địch. Sự sáng suốt, tài tình của Đảng đã đưa phong trào cách mạng miền Nam lên cao trào như “diều gặp gió”.

Đảng bộ Đông Phước rất coi trọng sự liên kết với các chi bộ xã bạn để tăng sức chiến đấu – Vào 6 giờ sáng, 10-6-1959, dưới sự chỉ đạo phối hợp của Đông Phước và Thường Đông, 350 quần chúng tập trung tại quốc lộ, giương cao băng biểu ngữ “chống thảm sát đồng bào vô tội”, “thực hiện dân sinh dân chủ”. Kéo đến Dinh tỉnh trưởng Cần Thơ, buộc hắn phải ngưng ngay.

Năm 1959, giặc lập khu trù mật tại Ngã Sáu, chi bộ phát động dân đấu tranh, chúng thất bại vì dân nhận nền nhà nhưng không ai chịu về. Đỉnh cao của sự tàn bạo là “Luật 10/59”, đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Chúng có ảo vọng là lê máy chém đi chặt đầu người cộng sản để đi hù dọa, nhưng dòng máu bất khuất của người cộng sản lại là nguồn nuôi máu đỏ hờn căm trong tim dạt dào yêu Đảng, kính phục người đảng viên kiên hùng. Huyện ủy Phụng Hiệp, đồng chí Trần Minh Sơn (Bảy Mạnh) làm Bí thư quan tâm, chỉ đạo sát Đông Phước vượt qua khó khăn lớn này.

Ngày 14-10-1959, ngày uất hận của người dân Đông Phước, nước mắt tràn tuông, tiếc thương đồng chí Phó Bí thư Bùi Tâm Hảo, người con ưu tú, người đảng viên anh hùng thứ hai của  Đông Phước mang dòng máu bất khuất của Ngô Hữu Hạnh hiên ngang bước lên pháp trường tại khán đài Đông Sơn dõng dạc hô to: “Hồ chủ tịch muôn năm”, tiếng khóc, tiếng nguyền rủa, tiếng la hét “đả đảo” của ngàn người át tiếng súng của bọn đồ tể. Đồng bào đấu tranh ba ngày liền mới mang được xác về chôn. Gia đình đem 2 đầu đạn địch bắn về thờ để khắc ghi mối thù phải trả.

Ánh lửa căm thù từ đôi mắt người cộng sản là ánh sáng niềm tin soi đường cho bà con Đông Phước tràn lên trong đêm đồng khởi. Đông Phước xông lên vây đồn, góp phần tiêu diệt đồn Mái Dầm.

Tháng 6-1960, du kích xã phối hợp binh vận, dùng mã tấu bao vây đồn Tràm Bông giữa ban ngày, địch bỏ chạy, ta thu 6 súng, hơn 1.000 viên đạn. Du kích mật họp dân, gọi một số tên tề ấp để trấn áp, giải tán bọn dân vệ, tịch thu gậy tầm vong sơn xanh trắng đỏ. Đội du kích mật ngoài anh Ba Ca, thì anh Sáu Ổn, Út Oanh, Hai Tâm phải bao mặt lại (vì hợp pháp) dân tưởng là bộ đội chủ lực càng phấn khởi. Các anh còn xử tử hình “treo” 2 tên chỉ điểm: Hai Lùn (Đông Thạnh), Hai Can (Đông Phú), rút mã tấu ra, đọc bản án rồi tha chúng.

Ngày 14-9-1960, trên 20.000 đồng bào (Châu Thành có 5.000 dân Đông Phước) lớp đi bộ, lớp đi xuồng ghe, có tổ chức tổ toán chặt chẽ, các ngã tập trung về Đầu Sấu, tiến thẳng về thị xã Cần Thơ, bất chấp sự đàn áp dã man, khiến bọn đầu sỏ chánh quyền tỉnh khiếp vía kinh hồn.

Đêm 14-9-1960, lệnh đồng khởi của tỉnh truyền ra. Khí thế vùng lên long trời lở đất, đèn đuốc rực trời, trống mõ oai hùng, thúc giục biển người mang: gậy gộc, phảng kéo cổ, dao phay tràn lên như nước vỡ bờ. Trung đội du kích ấp Phước Long do anh Sáu Ổn (trưởng), Ba Đầy (phó) chỉ huy, có một súng ngắn, hai mã tấu. Hơn 400 bà con của 6 ấp kéo đi đông nghẹt trên hai bờ kinh Tân Quới đến nhà Chín Bền chỉ 2 lần khẩu lệnh “Tiến lên” đã sát đồn Ngã Sáu, do tên thượng sĩ Thường chỉ huy, chúng không đầu hàng, bắn chết anh Hai Nhỏ đang phát loa, bóng anh ngã xuống, lòng căm thù giặc đã góp thêm sức mạnh, khí thế bùng nổ, đoàn người xông lên hô khẩu hiệu: “đả đảo Mỹ - Diệm”, “Phá tan ấp chiến lược”, “Tiêu diệt ác ôn”, tiếp tục vây đồn, một số theo Xã đội trưởng Năm Mù truy lùng tề điệp.

Trời Đông Phước lửa rực sáng, vang lên khúc ca chiến thắng, tiếng hát mừng đổi đời. Chi bộ (đ/c Trần Văn Duyên (Chín Mẫn) là Bí thư, Ba Lồng, Chi ủy viên) lãnh đạo đồng khởi thắng lợi.

Qua chặng đường lịch sử năm 1954-1960. Đảng bộ Đông Phước đã được rèn luyện rút ra nhiều bài học thực tiễn trong gian nan máu lửa, một chân lý thắng lợi của bao lực lượng cách mạng. Bám chặt đường lối Đảng là ánh sáng soi bóng tối trong hầm bí mật, vách đôi, để đảm bảo đảng viên ta bám dân, tìm ra phương thức mới, thích hợp quyết thắng giặc, phát huy tài tình đòn đấu tranh chính trị, một sáng tạo tuyệt vời của cách mạng miền Nam.

 

CHƯƠNG X

ĐÔNG PHƯỚC CHỐNG ÂM MƯU BÌNH ĐỊNH GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (5/1961-1965)

 

Thất bại đau đớn, tháng 5-1961 Mỹ - Diệm hốt hoảng thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, với kế hoạch Staley – Taylor sẽ tiêu diệt cách mạng Việt Nam trong vòng 18 tháng.

Cần Thơ là trọng điểm bình định của miền Tây. Mỹ đặt lãnh sự quán Mỹ, tình báo CIA, xây dựng cơ sở vật chất kho tàng, hậu cần cho vùng 4 chiến thuật, xây dựng sân bay Trà Nóc lớn nhất miền Tây, quân cảng Bình Thủy, đồng thời lập nhiều tuyến phòng thủ bảo vệ thị xã Cần Thơ, dồn dân lập ấp chiến lược trên các tuyến lộ 4… Như thế, mức độ chiến tranh ác liệt tăng nhanh ở các vùng ven đô thị xã Cần Thơ, có Đông Phước, con đường huyết hạch tỏa ra nhiều nơi.

Chúng ra sức đôn quân bắt lính, trang bị mạnh để làm mũi nhọn bình định, tăng cường độ và quy mô càn quét, thẳng tay bắn giết đốt phá. Sư đoàn 21 có cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy có tháng đi càn 26 ngày Đông Phước phải chịu nhiều trận pháo kích giao điểm của các ụ pháo Phong Thuận, Cả Bảo, Phụng Hiệp. Dồn dân lập ấp chiến lược, 5 nhà mới có được một cửa ra, 6 giờ sáng mới được mở cửa. Tháng 3-1961 bắt dân đi đắp đê Phú Hữu – Mái Dầm.

Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng (tháng 1-1961) nhận định “Thời kỳ ổn định của Mỹ - Diệm đã qua, thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng của nó đã bắt đầu. Cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa của nhân dân có thể bùng nổ, lật đổ chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm, tiến tới giải phóng miền Nam”. Bộ chính trị quyết định đẩy mạnh đấu tranh vũ trang song song đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng 3 mũi: chính trị, quân sự và binh vận…

Nghị quyết trở thành kim chỉ nam dẫn đường cho quân dân miền Nam.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời, ngày 20-12-1960.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng huyện Châu Thành được 5.000 dân đón chào tại Mỏ Neo (Đông Phước).

Mặt trận Dân tộc Giải phóng xã Đông Phước.

Chủ tịch: Ông Sáu Phón

Phó chủ tịch: Cô Ba Kim Chi và ông Bùi Nhật Ổn

Ủy viên: Ông Tám Đường

Ủy viên: Ông Sáu Huỳnh

Vùng giải phóng Đông Phước mở rộng, khí thế gió lộng cờ bay dần dần trở thành một trong lá cờ đầu tiên về du kích chiến tranh, nhiều điển hình đánh giặc được toàn miền học tập nhân lên.

Đảng bộ phát triển từ 20 đảng viên lên 25 đảng viên, cơ quan đóng gần kinh Hai Phó (Phước Long). Chánh quyền hoạt động tích cực, các đoàn thể quần chúng đông và chặt chẽ hơn.

Chi bộ phát động phong trào du kích chiến tranh “Diệt ác phá kìm” chống càn bằng tất cả những vũ khí thô sơ, lấy súng giặc cho ta. Bọn địch ở Cần Thơ, Cái Răng, Phụng Hiệp, dồn hết lửa đạn để thiêu cháy Đông Phước, hòng nhổ cái gai trong mắt, còn bà con xã Đông Phước đã quyết tử, thông minh biến nơi này là bãi tử địa, mồ chôn lũ ác gian. Với khí thế sau Đồng Khởi du kích Đông Phước dạy cho chúng trận đòn chua cay, chặn đánh cuộc hành quân của một đại đội Bảo an từ Phụng Hiệp kéo vào… 19 tên bỏ mạng, ta thu được 16 súng, hàng trăm viên đạn, bẻ gãy cuộc càn quét.

Cần nhắc lại tội ác thảm sát của Mỹ - Diệm, để ta hiểu rõ hơn vì sao người Đông Phước sống phải đánh giặc, đánh giặc để mà sống.

Ngày 12-3-1962 địch ném bom từ vàm Ngã Cạy đến rộc Rau Cần, gia đình ông Năm Dương chết hết 5 người trong hầm trú ẩn.

Ngày 22 tháng giêng âm lịch 1962 thảm sát dã man nhất ở ấp Phước Hưng, 22 mạng người, máy bay L19 rà sóat, lính Cái Răng vào bắn dân đang làm đồng lúa cong trái me: ông Bảy Tài, Tư Nhương, Mười Của, Hữu, Bảy, tính chung các nơi chết hơn 30 người.

Đầu năm 1964, ném bom Chùa Cô giết 14 người và 6 người bị thương.

Năm 1963 ở ngon Cái Đôi lính đánh chết một lúc 6 người, ở ngọn Rạch Cớt biệt kích bắn chết 6 dân thường.

Đọc tên trên bia căm thù: Bà Cửu 104 tuổi, ông Út 81 tuổi, bà Kim, bà Chiểu, ông Trung, em Bé, em Bảy cả hai hài nhi còn trong bụng mẹ, người người càng ghê tởm “chiến công danh dự” của lũ không lực Huê Kỳ mất hết tính người.

Hận thù trào dâng, người nông dân dù ít chữ vẫn hát lên lời ca chân thực, từ sâu thẳm trái tim căm giận, ý chí phục thù.

                                              

                                                   Bài thủ phong nguyệt (tác giả: Chí Sinh)

Ôi đau thương trùm phủ cả xóm làng

Loài Ngô – Mỹ, thật dã man

Tàn sát, bắn giết người dân

Ôi máu tuôn – vợ hiền xa chồng

                                          Mẹ già đau lòng…

Vọng cổ câu 4: “Trời ơi vợ ôm xác chồng, người vợ hiền nức nở, mẹ già thét lên lời căm hờn…

Đả đảo quân Mỹ - Diệm hung tàn. Mỹ - Diệm bây ơi ! Bây giết con tao thì tội ác bây phải đền” (trích)

“Tiếng hát át tiếng bom”, càng đau thương gian khổ tiếng hát càng cất cao, đó là “chất nghệ sĩ” đó là truyền thống của người Đông Phước.

Từ đó ta mới lý giải được tại sao khi Đảng bộ phát động vót chông 1 thì dân 2, 5 thành 10. Ông bà cha mẹ thi đua với con cháu vót chông, làm hầm chông trên phần đất của mình.

Nếu ai hiểu được cái gan lì của Đông Phước thì làm sao không si mê em gái tóc thề chấm ngang vai bình thản vót chông sau đợt pháo dội, cất tiếng hát dưới trăng vàng “ Cây chông tre là cây chông, máu giặc đây nè, máu giặc còn loang”.

Hoặc:

Làng Đông Phước ta nhiều chông, lắm hố

Khi giặc vào mang khổ cả đời

…………..

Toàn dân Đông Phước lập công

Thi đua ấp Bắc làm chông thật nhiều

                                                        (Điệu Bắc Sơn Trà)

Người mẹ vừa cho con bú, vừa gài chông, rồi đưa võng ru con chờ đợi tên lính đến thử da thịt nó với mũi chông.

Ầu ơ:

Chiều chiều lo bảy lo ba

Lo chông chưa chuốt, lo chà chưa xong

Lo cây cắm cọc ngoài đồng

Lo xong công việc - ầu ơ tấm lòng mới yên

Chuyện nhổ cột nhà làm chông phản ánh tính khí của người dân Nam bộ không còn là chuyện độc đáo riêng của anh Út Bụng, Tư Hòa (đảng viên ấp Đông Bình) mà đã thành việc làm phổ biến của nhiều gia đình.

Có cả dòng họ chông: chông hầm, chông bắn, chông ghim, chông bay, chông trái ấu, chông di dời được, trong bài hát “chông chống Mỹ” theo điệu cải lương, rất được nhiều người mê hát.

Người du kích Ba Ca, được tôn là vua đánh chông lại chế thêm chông phảng. Anh lấy hai phảng cũ, mài thật bén, xâu hai đầu, đâu lưỡi đặt hai bên vách hầm, hai lưỡi phảng sẽ vuốt dọc từ chân tới đầu gối, nghe tả cũng đủ rợn người. Anh còn đặt cái nón mới, cái khăn rằn như mới rớt ngoài đường, thật là khoái khẩu mồi ngon cho bọn lính vốn có tính tham, đua nhau tranh giành giật, thế là một trái nổ tung xác vài thằng.

Ngày 12-11-1962, 8 trực thăng đến đổ giò, đổ cóc, đánh nhanh rút lẹ. Thế là cả rừng chông bằng tre, cau, dừa nước, cây lách mọc lên khắp đồng, chống chiến thuật trực thăng vận, một trong những con chủ bài của chiến lược chiến tranh đặc biệt. Có nơi còn tấp lá chuối lên ngọn chông cho chong chóng cán gáo hút vướng, chỉ bay cao thôi.

Trong lịch sử đánh nhau từ cổ chí kim chưa có vị tướng tài nào đưa nạng giàn thun vào trận chiến, thế mà hai đồng chí Mười Cụt, Ba Thanh (đảng viên ấp Đông Bình 1970, Xã đội phó Đông Phước) không học binh thơ ngày nào, đã dùng hai cây cọc cắm thật chắc, tra dây thun vào buộc 1 trái túi lựu đạn từ 1 đến 5 trái giương thun bắn vào đồn.

Thử nghĩ xem, lính đang tụm lại trong đồn ấm cúng để suy nghĩ ngày mai đi càn sẽ giựt món gì, bất chợt một loạt tiếng nổ như pháo bầy mà không nghe tiếng đề pa, thì dù mình đồng da sắt cũng phải bò càn, cầu chúa, niệm phật. Nỗi sợ nhất, thấp thỏm ngày đêm là không biết chừng nào ta sẽ bắn nữa.

Từ 1963, qua làn sóng Đài Giải phóng, Đài Tiếng nói Việt Nam, trong nước và thế giới đều biết xã Đông Phước có anh Ba Ca đánh giặc bằng ong vò vẽ.

Anh Ba Ca tên thật là Nguyễn Văn Quy ở ấp Phước Hưng nghèo đến độ cán bộ, bộ đội phải cho gạo ăn. Anh cố nông ấy tuyên bố một câu xanh rờn là: “Một tháng đi làm cho cách mạng 26 ngày, còn 4 ngày đi bắt cua đinh nuôi vợ con”. Bắt cua đinh để ăn, ăn no để đánh Mỹ - ngụy là hai việc làm bình thường và thông thạo như nhau. Có lẽ vì thế mà con người thất học đã trở thành thông minh tuyệt vời khi là đảng viên.

Anh dùng quần áo cũ nhử ong cho quen hơi anh rồi nuôi từng ổ trên mỗi cây riêng di dời được.

Trận đánh bằng ong vò vẽ, tại ấp Phước Hưng như sau: Ta biết được tin do nội tuyến đưa về là sáng mai 13-3-1963, Tiểu đoàn Bảo an có cố vấn Mỹ chỉ huy sẽ tập trung tại Cái Chanh, đi càn quét Phước Hưng. Tối chúng dùng máy bay phong tỏa, bắn phá toàn khu vực.

Ta nắm được quy luật này nên đồng chí Ba Ca chỉ huy 13 du kích, bố trí các tổ ong quanh nhà Ba Khế, đào hầm chông, gài trái đạn, chất nổ napan rồi phục kích chờ.

9 giờ sáng 13, địch bị du kích ta dồn vào vòng vây, đồng chí Ba Ca ra lệnh nổ súng xung phong, rồi giật mạnh dây ở các tổ ong, ong tủa ra đánh tới tấp, quan lính hỗn loạn chạy sụp hầm chông đạp trái nổ. Địch chết 10, bị thương 16, ta thu 16 súng, 2.500 đạn các loại.

Anh Ba ơi ! từ đất mẹ mong anh lắng nghe chuyện về anh. Anh đi dự báo cáo điển hình về chiến tranh du kích của Đông Phước trên Trung ương Cục miền Nam, nhiều nghệ sĩ say mê chiến công kỳ tích của anh, đó là đề tài sáng tác điệu múa “Ong vò vẽ”.

Không biết anh đã xem văn công Cần Thơ biểu diễn điệu múa đó chưa? Sáu cô gái trẻ, tay đàn tay súng, mới hồi chiều mặt mày bê bết bùn đất, đào hầm, tải gạo. Tối nay, ánh đèn sân khấu hòa lẫn ánh trăng rừng xanh, các em đã trở thành các nàng tiên với trang phục con ong. Sáu diễn viên đẹp như sáu dòng kinh Ngã Sáu bao vây bầy lính Mỹ. Đoạn cuối, ong chích Mỹ bò càn, khán giả nhất là bộ đội và phụ nữ vỗ tay vang rừng.

Khi đoàn văn công giải phóng miền Nam đi biểu diễn ở 9 nước bạn xã hội chủ nghĩa, tiếng vỗ tay giòn giã kéo dài. Sau đó nhiều tướng quân sự, nhà trí thức, nhà báo đến Đoàn hỏi thăm về ý kiến điệu múa, người sáng tác, hỏi cách đánh của anh Ba Ca, hỏi về Đông Phước. Ta giảng giải rõ, hiểu ra họ hết ngạc nhiên, trước khi từ giả họ nói: Việt Nam, Hồ Chí Minh và đưa 2 ngón tay hình chữ V tức Victoire là “Chiến thắng”.

Phong trào đánh giặc bằng ong vò vẽ, được nhân rộng khắp địa bàn xã. Du kích phát triển, bố phòng chống càng vững chắc, bọn địch co cụm lại, lính đi càn càng run sợ. Ong vò vẽ, giàn thun là vũ khí từ lòng căm thù của Đông Phước.

Trận địa chiến đấu tốt, có chiến công của hai đồng chí Út Cọ, Hai Đệ, hai nông dân ít chữ trở thành “Kỹ sư chế tạo vũ khí” của công trường xã nhà. Hai anh đã làm cho bọn Nhà trắng Huê Kỳ phải kinh hoàng bằng những vũ khí thô sơ, lạ lùng mà chúng không thể tưởng tượng nổi. Đặc biệt là dùng vũ khí tối tân hiện đại, bom đạn lép của chúng chế tạo lại, nổ tan xác chúng. Đồng bào tìm kiếm và gởi về công trường gang, thép, sắt kể cả những cây đinh rỉ sét. Đồng bào ngoài thành gởi vào những ống tuýp, thuốc nổ, để chế súng kép, súng ngựa trời. Hai đồng chí “Kỹ sư” ấy đã góp phần tạo niềm tin đánh giặc cho quân dân Đông Phước.

Tháng 3-1962 anh Sáu Ổn, anh Năm Vui cùng hai du kích được sự chỉ dẫn của đồng chí Tư Đặc, đào hầm chôn súng ở ngọn Cái Đôi được hai khẩu mút Anh đầu bằng và đầu ló, 1 súng trường Đức, 1 khẩu Thompon trang bị mạnh thêm cho du kích xã. Ta đánh hai trung đội biệt kích ở Cả Mới (Ba Ngàn) của tiểu đoàn biệt kích Phụng Hiệp. Đánh trận càn lớn với 4 mặt từ Long Thạnh qua Cái Chanh, qua Cái Dầu cho tàu đổ bộ lên Cầu Dừa. Ta gài chất nổ ở xã Thường Đông, Thường Thạnh, ta dồn quân về phục kích ở Ngã Cạy, Ngã Cái. Đội du kích vừa đánh địch vừa hỗ trợ đồng bào đấu tranh chính trị từ 7 giờ sáng đến 4 giờ chiều, giải thoát 300 đồng bào tại cản đất Phước Long, Phước Thuận. Địch chết bị thương tại Ngã Cạy 10 tên, các ngã khác chưa tính, 2/3 chết vì chông và ong vò vẽ của anh Ba Ca.

Đầu năm 1962 tên cố vấn Mỹ dẫn chó theo, sụp hầm chông nhà ông Ba Có chó chết, tên Mỹ bị thương.

Tháng 5-1962, du kích phối hợp binh vận bao vây đồn Bảy Thưa, địch vây gí đại đội 23 của ta, du kích theo sát chặn bước tiến của chúng, đến chiều đại đội 23 quật lại đánh hồi mã thương, diệt chúng một tiểu đoàn tại Tràm Bông.

Tháng 3-1962, đội du kích chống cả tiểu đoàn Bảo an 270.

Tháng 6-1962, một đại đội Bảo an từ Phụng Hiệp càn quét Cầu Dừa vào rạch Đông Phú, Đông Mỹ, có binh vận. Ta dụ chúng vào vòng vây, trận địa bố trí sẵn, sau hai giờ giao tranh ác liệt, địch phải rút lui, chết 12, bị thương 45, ta thu hồi 18 súng.

Tận dụng thời cơ Mỹ đảo chính Diệm, chấp hành chủ trương của Huyện ủy, đẩy mạnh 3 mũi tiến công, ta tiêu diệt đồn Bảy Thưa (xã Đông Phước) vào tháng 4-1964.

Từ năm 1961-1965, mỗi tháng địch càn vào Đông Phước ít nhất 2, 3 trận đến 4, 5 trận lớn nhỏ, đều bị du kích chặn đánh, có nhiều lần kết hợp với chủ lực, địa phương quân.

Đồng chí Ba Ca đi dự hội nghị chiến sĩ thi đua toàn miền Nam.

Đồng chí Sáu Ổn đi báo cáo ở hội nghị dân vận tỉnh Cần Thơ. Đông Phước được tuyên dương là lá cờ đầu chiến tranh du kích trong toàn miền.

Đánh về quân sự là thế, còn đánh giặc về chính trị thì đội quân tóc dài, các chị, các bà, các mẹ đã lập chiến công xuất sắc: Tay không thắng giặc.

Suốt từ năm 1961 đến 4-1975, có hơn 60 cuộc đấu tranh chính trị lớn nhỏ, với 23.000 lượt người. Bà con Đông Phước dũng cảm, thông minh, đấu lý thắng địch tại chỗ, còn luôn có mặt rất đông, vượt chỉ tiêu trong các cuộc biểu tình lớn về Cần Thơ, Cái Răng.

Ban chỉ huy mặt trận chính trị này, đặt tại Cái Muồng, do đồng chí Sáu Phón, đồng chí Ba Kim Chi là 2 chi ủy viên lãnh đạo.

Tổ chức này ngày càng khoa học, chặt chẽ hơn, có đảng viên, có đoàn viên làm nòng cốt. Đoàn được học tập, trang bị lý lẽ đấu tranh đúng yêu cầu từng cuộc, có khẩu hiệu thích hợp như đòi: “Dân sinh, dân chủ”, “chống càn quét cướp bóc”, “chống bắn ô bút”, “chống gom dân vào ấp chiến lược”. Lý lẽ chính nghĩa sắc bén của bà con luôn thắng những câu nói ngang, nói càn, thô tục, cả bọn “Thiên nga”, “Phượng hoàng”, tâm lý chiến được đào tạo hẳn hoi. Từ thế bị thua bị “quê xệ”, bị bẽ mặt, lúng túng chúng giở trò hăm dọa, bà con đã kết thành một khối tiến lên, mũi súng chúng từ từ hạ xuống. Ông già Võ Văn Hiệp rượt mấy thằng lính đốn lá nhà ông, tới đồn Cản đất, tên xếp đồn phải ra xin lỗi tha cho lính nó lỡ dại!, âm mưu phá màu xanh địa hình của chúng bị thất bại.

Bà Cà Mi (bà Tình), bị lính viết trên áo “Đả đảo Cộng sản” bà cởi áo ném ngay xuống sông Cầu Dừa ở trần để vạch trần hành động dã man đối với phụ nữ, cử chỉ đó biểu lộ khí tiết quyết liệt kêu gọi đoàn biểu tình tràn lên như dòng nước – Ngã Sáu dâng đầy. Đông Phước là một điểm tập kết các đội quân chính trị nhiều nơi tiến về thị xã Cần Thơ. Ngày 20-11-1961 và tháng 4-1964 đêm chuẩn bị trở thành ngày hội lớn rất vui, rất hùng tráng. Đèn đuốc sáng rực khẩu hiệu, cờ sao phất phới trên bờ dưới sông, ghe xuồng tấp nập rộn ràng tiếng cười vui, tiếng hát. Đội võ trang hỗ trợ thì thao diễn, đội tiền phong đi đầu tập bước tiến lui, ôn lại lý lẽ, cả tư thế đánh trả khi bị đàn áp. Đội hậu cần lo đầy đủ bánh tét, cơm nếp,  nước uống.

Rừng người tiến về thị xã, vẫn hiên ngang tiến trước mũi súng giặc, khói lựu đạn cay, vượt rào kẽm gai, dũng cảm áp đảo, đánh lại bọn đầu trâu mặt ngựa chặn đường. Nhiều bà, nhiều chị bị bắt bớ giam cầm từ nhiều ngày đến vài tháng nhưng không nhụt chí đấu tranh.

Bà Phạm Huỳnh Mai (nữ du kích năm 1960, đảng viên 1963, Ủy viên ban chấp hành phụ nữ xã), là người chỉ huy 4 cuộc đấu tranh ra Phụng Hiệp, Cái Răng kể lại rằng “Trận đấu tranh vào thị xã Cần Thơ (1964), đội quân của Đông Phước có nòng cốt đảng viên, đoàn viên khá đông, là trận bị thiệt hại nặng nhất. Đoàn đi bộ của Đông Phước phối hợp với đoàn Châu Thành, kéo vào thị xã, địch bắn chết một chị bỏ lại đứa con tám tháng. Như lửa đỏ thêm dầu, đoàn biểu tình kéo lên quận đòi bồi thường nhân mạng. Đoàn đi ghe bị lộ, 36 chị ở Đông Phước bị bắt, bo bo kè về bến Ninh Kiều. Chúng viết khẩu hiệu trên nón lá trên áo, các chị đã có kinh nghiệm, cởi áo ngoài liệng bỏ, quăng nón, chúng xịt vòi rồng đổ nước xà bông tra tấn rồi đem giam. Trốn về được còn lại 9 chị chúng giam từ 5 ngày đến 2 và 3 tháng như chị Hai Trước, Ngọc Hân, Ngọc Diệp, chị Huệ, chị Tư Đoàn, chị Út Đạm, chị Bảy Tím, chị Mười Mén…”

Mỗi lần đội quân tóc dài đấu tranh thắng lợi, đồng chí Sáu Phón ngâm tặng bài thơ viết năm 1963.

“Vào tù ra khám xem thường

Chị em dấn bước trên đường đấu tranh”

Ông Bùi Công Kỵ thêm:

“Ta đánh chúng bằng đòn chánh trị

Có sá gì tánh mạng hy sinh”.

Đó cũng là lời thề của đội quân tóc dài Đông Phước. Đòn chính trị tác động mạnh đến đòn binh vận, những khẩu hiệu “Tăng lương cho binh sĩ”, “Anh em binh sĩ hãy về với vợ con”, đã khêu gợi tinh thần dân tộc giác ngộ sĩ quan binh lính ngụy quyền, tác động nhanh, sâu rộng phong trào “Súng Mỹ lòng ta”; ta lấy nhiều đồn nhờ có nội tuyến.

Du kích ta diệt một số tề điệp ác ôn. Du kích Tống, Được, Dũng, Trắng, bắn tên chủ ấp Lẹo (Phước Hòa) lòi ruột, sát đồn Tư Cống (kinh nhỏ), hai tên chiêu hồi dìu tới am, gặp anh Năm Gòn du kích bắn chết ngay tại chỗ; xử tử hình công khai tên Thuộc, chỉ điểm tại Ngã Cạy. Năm 1964, bà Chín Bình (vợ của đảng viên) phát hiện tên gián điệp về Xẻo Chồi (khu vực Tỉnh ủy đóng) nó để máy liên lạc trên võng phát ra tiếng, ta bắt được tên này.

Nhịp nhàng với phong trào tòng quân cứu nước lên rất cao, đạt chỉ tiêu 1/3 đảng viên, 2/3 đoàn viên, ngoài 72 thanh niên xung phong đi khắp chiến trường còn có đại đội 112 đưa về trên bổ sung.

Từ 1960-1966 có 480 tòng quân, đợt cao nhất là 43. Số thanh niên này, sau trở thành sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam như; trung tá Thời, Tư Ca, đại tá Nguyễn Thành Thiên (Ba Thiên, đoàn viên), đại tá Hai Chiêu (đảng viên), thiếu tá Trần Văn Sơn (Sáu Sơn) anh hùng quân đội (trước là trưởng ban nông dân ấp).

THỜI KỲ TỪ 1963 ĐẾN THÁNG 6-1965 LÀ ĐỈNH CAO CỦA “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT”

Ngày 8-12-1963, địch thành lập quân đoàn 4. Bảo vệ trung tâm đầu não vùng 4 chiến thuật tại thị xã Cần Thơ. Châu thành là cửa ngõ phía Tây Nam, Đông Phước là “Bẩy lửa” khủng khiếp, nên địch quyết tâm xóa bàn đạp này. Chúng tung sư đoàn 21, cả bọn mật vụ “Thiên nga”, “Phượng hoàng” dày đặc. Với chiến thuật “2 gọng kìm” (tìm diệt và bình định), với trực thăng vận, cắt nhiều mảnh, đánh dài ngày. Điển hình là cuộc càn của Tiểu đoàn Bảo an 270, đánh vào Đông Phước nhưng ta đánh thắng, làm nức lòng dân Châu Thành, toàn tỉnh Cần Thơ. Từ đó, địch tăng cường lập ấp chiến lược.

Tháng 12-1964, địch đưa không quân ra đánh phá miền Bắc. Với khí thế trào sôi căm giận, ngày 8-6-1965 quân dân Đông Phước lập công to trong trận đánh Trung đoàn 33, Sư đoàn 21, cùng 4 đại đội Bảo an, có phi pháo yểm trợ đánh vào các xã: Trường Long, Nhơn Ái, Phú Hữu, Đông Phước.

Đông Phước vẫn giữ vững trận địa, đời sống về kinh tế nâng cao. Sản xuất phát triển, nhân dân đóng góp thuế nông nghiệp nhiều hơn. Phong trào lạc quyên “hũ gạo chống Mỹ” “cây chuối nuôi quân” đều khắp, khí thế cách mạng lên cao. Bài bút ký “về Đông Phước” của nhà văn Lê Vĩnh Hòa được đọc trên Đài Hà Nội, Đài Giải phóng để lại trong lòng quân dân cả nước niềm tin yêu tự hào về Đông Phước.

Thế là Đảng bộ Đông Phước lãnh đạo quân dân góp phần đánh bại “chiến tranh đặc biệt”. Đúc kết được nhiều kinh nghiệm lãnh đạo 3 mũi giáp công.

Cuối 1965, Chi bộ quân dân Đông Phước được Huyện ủy trao cờ luân lưu “thi đua ấp Bắc” đoạt giải nhất về phong trào du kích của tỉnh.

ĐÔNG PHƯỚC GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA MỸ - NGỤY 1965-1968.

Sau khi vụ thảm bại, Mỹ buộc phải chuyển sang “chiến trnh cục bộ”. Giữa 1965, Mỹ ồ ạc đưa quân chư hầu vào miền Nam, tăng cường chiến trnh hiện đại nhất (cả pháo đài bay B52), thực hiện kế hoạch “2 gọng kìm”, “bình định và tìm diệt” của tướng Oét-Mô-Rơ-Len, tập trung cao lực lượng phi pháo bắn phá vùng giải phóng, rải chất độc hóa học khai hoang, phá địa hình hòng xóa căn cứ ta, đốt sạch, phá sạch, giết sạch nhất là vùng ven đô như Đông Phước. Tung hàng loạt bọn tâm lý chiến vào vùng ta, tạo một đời sống trụy lạc hòng dễ bắt lính.

Đây là giai đoạn đen tối, ác liệt nhất. Đảng bộ Đông Phước (đ/c Hai Thảnh làm bí thư thay Chín Mẫn) vững vàng tiếp thu Nghị quyết đại hội lần 11 (3-1965) và hội nghị lần 12 (12-1965) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đã phân tính tình hình chung một cách khoa học, so sánh lực lượng giữa ta và địch, khẳng định thất bại không thể tránh khỏi của đế quốc Mỹ, động viên quân dân cả nước giữ vững chiến lược tấn công, phát huy sức mạnh tổng hợp, kiên quyết đánh bại mọi chiến lược chiến tranh xâm lược trong bất cứ tình thế nào. Đảng bộ đã giáo dục đảng viên và quân dân, phát huy tinh thần bám trụ “một tấc không đi một ly không rời”. Xã Đông Phước địch đóng tới 10 đồn bót, một phân chi khu Cầu Dừa, 1 căn cứ liên đội 10 tại Ngã Sáu (tên Đại úy Thụ chỉ huy) hàng đêm phải hứng chịu từ 50-100 quả pháo từ ụ pháo Cả Bảo – Phụng Hiệp – Cái Côn. Đi càn luôn có cố vấn Mỹ chỉ huy. Bà con không nhịn cười khi nhắc lại vụ thằng Mỹ được lính ngụy đặt vào cái lu, lội kè lu qua vàm Tràm Bông. Cái lu lật chìm, thịt Mỹ làm mồi cho cá tôm Đông Phước. Ở vàm Cái Muồng, 1 tên Mỹ đen cũng lâm vào thảm cảnh như vậy.

Tháng 1-1966, lực lượng ba mũi đã dũng cảm, mưu trí diệt đồn Xẻo Lá – tiếp theo du kích xã phối hợp với Tiểu đoàn Tây Đô diệt gọn Đại đội Bảo an 416 tại Xẻo Chồi có 2 cố vấn Mỹ, bắn rơi một trực thăng, thu 20 súng.

Từ tháng 5-1966, Đảng bộ quán triệt nghị quyết Huyện ủy đẩy mạnh phong trào 3 mũi giáp công, quyết chống càn quét, chống lùa dân vào ấp chiến lược, “giết Mỹ lập công” bám đất giữ làng. Dù bom đạn ác liệt, mũi đấu tranh chính trị vẫn tiến công, phá tan âm mưu lập ấp chiến lược, ấp “Tân sinh”.

Ngày 1-10-1966, cuộc biểu tình lớn vào thị xã Cần Thơ với khẩu hiệu “chống ném bom” “rải chất độc”. Cuối năm 1967, Đông Phước cùng hàng ngàn bà con chở 53 tử thi, 30 quan tài, 25 người bị thương đòi Mỹ bồi thường nhân mạng, chấm dứt bắn phá. Nhiều gương dũng cảm, địch lùa lên máy bay, cánh quạt trực thăng.

Lính lùa đi bộ thì thuyết phục lính. Âm mưu lập ấp chiến lược bị thất bại nặng nề. Bà con một số ít ở vùng ven bị dồn ra ấp chiến lược, ban ngày đòi về làm ruộng vườn, mà thật tâm để về gặp đảng viên, cán bộ ta. Nhiều gương cảm động bảo vệ đảng viên của bà con trong cảnh cá chậu chim lồng luôn hướng về đất cách mạng. Từ người già cho đến trẻ em, nhất là phụ nữ tự giác làm công tác binh vận tại chỗ, giúp ta nắm được tề (như tề Quăn, chủ ấp Phiến ở Ngã Sáu).

Năm 1968, ta bắt tên tình báo, đào hầm giấu máy thông tin ở ấp Long An. Cơ sở mật giúp công an huyện bắt 4 tên gián điệp ở ấp Đông Phú.

Đồn Phước Long chặn tuyến giao thông, đường qua lại của ta gây khó khăn cho nhiều hoạt động.

Ngày 14-7-1967 chi bộ hạ quyết tâm lấy đồn, với lực lượng du kích kết hợp binh vận, phối hợp với tiểu đoàn Tây Đô bao vây, diệt 12 tên, thu 7 súng. Đây là trận chiến thắng lớn, mở đường huyết mạch giao thông từ Khu 9 (T3) về Khu 8 (T2) và về Trung ương Cục (R).

Tháng 9-1967, du kích xã bảo vệ cho 500 đồng bào ở tuyến quốc lộ 1, phá lộ dài 100m, đoạn từ  Long Thạnh đến Cầu Trắng, đặt 2 bao bố đựng ong vò vẽ dưới mặt lộ mới phá. Ngày sau 45 lính công binh đến giải tỏa lộ bị trận đòn ong đánh – bỏ lộ tắc nghẽn 6 tiếng, chặn địch từ Cần Thơ về Sóc Trăng.

Ngày 16-8-1968, du kích cùng tiểu đoàn Tây Đô đánh sư đoàn Mỹ, máy bay ném bom bừa đồng trống, ta diệt nhiều tên, có tên Mỹ ăn đạn chết trôi. Trận hủy diệt tàn khốc nhất năm 1969 bốn đại đội từ Ban Thạch qua Xẻo Lác, tràn về Kinh Nhỏ, ta diệt một số, có cố vấn Mỹ, chúng tháo chạy, kêu phản lực, trực thăng tới ném bom. Vừa pháo, vừa bom gần 1.600 trái, hủy diệt Kinh Nhỏ.

Chi bộ xây dựng phong trào toàn diện, trang bị thêm cho du kích, đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều gia đình “cưa đôi gia tài” hay hiến hết nhà chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân.

Ta cần nhắc lại chiến công âm thầm của người già, trẻ em tuổi thiếu niên trong đường dây B80, đóng tại ngọn Ngã Cạy.

Đường dây này nằm trong đường Trường Sơn trên biển. Đường độc đạo chuyển vũ khí từ hậu phương lớn chuyển vào cửa biển Trà Vinh, qua Cần Thơ về miền Tây. Chi bộ động viên đồng bào Đông Phước (có trẻ em từ 16 tuổi), khiêng vác đạn, chuyển xuống xuồng ghe, tập kết để vượt qua lộ 4 về miền Tây. Đây là công tác gian khổ, nguy hiểm cần đến sự táo bạo, thông minh tính toán chính xác giờ giấc, con nước, quy luật tuần tra của địch, cả kế hoạch bảo vệ vũ khí khi đường tạm bị tắc nghẽn; phải dầm sương, ngâm mình dưới nước, gió lạnh đêm khuya, chịu đói khát, khiêng vác nặng, căng thẳng sẵn sàng chiến đấu.

Có thể phải hy sinh tính mạng, dùng thủ pháo tự nhận chìm tàu, ghe xuồng, hủy diệt vũ khí, thùng đựng tiền khi đối đầu chiến đấu với các giang đoàn, tàu giặc dựng tắt máy phục kích chờ ta trên sông, cả bọn tuần tra trên lộ Long Thạnh.

Với tư thế người dân công, đồng thời là một chiến sĩ, người già đến trẻ của Đông Phước hoàn thành xuất sắc, thắng lợi nhiều năm liên tục, đóng góp lớn cho khu Tây Nam bộ.

Thế là Đông Phước góp phần đánh thắng chiến tranh cục bộ, sẵn sàng tư thế tấn công, lẫn vai trò căn cứ, hậu thuẫn cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân 1968.

 

CHƯƠNG XI

CUỘC TỔNG TẤN CÔNG NỔI DẬY MÙA XUÂN MẬU THÂN 1968

Cuối tháng 12-1967, Bộ Chính trị nhận định “chúng ta đang đúng trước những triển vọng và thời cơ chính trị lớn. Đế quốc Mỹ ở trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan”. Bộ chính trị ra quyết định lịch sử “chuyển cuộc cách mạng Việt Nam sang thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định”.

Thư chúc tết của Bác Hồ 1968:

“Xuân này hơn hẵn mấy xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà

Nam Bắc thi đua chống giặc Mỹ

Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”.

Đó là lời kêu gọi, thúc giục Đảng bộ, quân dân Đông Phước phấn khởi, lao lên vượt thời gian chuẩn bị trận đánh mới, chấp hành đúng chủ trương, Đảng bộ nâng cao sức chiến đấu, lực lượng võ trang bao vây kìm chân địch đồng thời đẩy mạnh mũi binh vận, kêu gọi lính bỏ súng, quay về với nhân dân. Địch hoảng sợ co cụm lại. Đơn vị tiếp ứng của xã điều đến Cầu Trắng (Long Thạnh). Làm chủ quốc lộ 1, 22 ngày đêm cho bộ đội tiến quân về Cần Thơ. Từng đợt đội du kích xã nhiều lần đến mặt trận cùng chia lửa với Vòng Cung.

Thanh niên xung phong đi tiếp tế hậu cần, tải đạn, tải thương. Đông Phước là một nơi chu đáo, tiếp một số thương binh Vòng Cung, giữ mối đường liên lạc cho các nơi về Vòng Cung.

Ngày 8-1-1968, 1 lữ đoàn cùng Sư đoàn 9 Mỹ đưa xuống Cần Thơ thì ngày 15-1 tổ chức ngay cuộc hành quân hỗn hợp có tàu chiến, xe thiết giáp của 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 7 và 21 ngụy, 3 tiểu đoàn biệt động quân 42, 43, 44, một đại đội thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn Mỹ có pháo binh yểm trợ đánh phá vào Vòng Cung, Phú Hữu – Đông Phước, chúng bắn giết, phá sạch tất cả. Sau đó, trong nhiều ngày liên tiếp, B52 rải thảm phát hoang, hòng tát dân, cứ 30 phút, 1 loạt đạn pháo, mỗi điểm cách nhau 10m.

Dã man hơn, chúng rải chất độc bừa bãi, dầy đặc. Ban đêm, trực thăng rà soát, tìm lực lượng ta, thấy người là bắn. Còn dư bom chúng trút xuống Ngã Sáu. Đông Phước sống trong “tọa độ lửa”. Không thể kể xiết sự khốc liệt, nhưng quân dân Đông Phước vẫn kiên cường bám trụ, luồn sau lưng địch buông ra đánh những đòn đau, giữ vững địa bàn.

Dân phân tán, cán bộ gặp khổ muôn trùng. Ban ngày phải “chém vè” ở lung bào, chui xuống hầm lấp cây khô lên, nhịn đói khát nhiều ngày, có lúc không còn đủ chuối ăn. Mặc dù bám trụ rất giỏi, địch có vô là có đánh, nhưng ngày càng gặp khó khăn vì mất nhiều nguồn dân, lúc đó xuất hiện cụm từ “đảng viên trọi”.

Đảng bộ nhạy bén chấn chỉnh, tìm mọi cách về bám dân, đưa cốt cán vào dân trong ấp chiến lược. Từ đó cơ sở ngày càng rộng, càng vững vàng. Dân Đông Phước lòng son dạ sắt vừa nuôi chứa, bảo vệ cán bộ.

Buổi sáng, sau giờ “tan phèn” (giờ mà máy bay và địch không dám hoạt động) thì dân đưa cơm, tin tức, thơ thừ công tác vào các “chòi lá, chòi nilon”, các lùm cho cán bộ.

Sáng 17-6 địch đổ quân xuống Đìa 20, kinh Thái Tử, ngay điểm tiểu đoàn Tây Đô dưỡng quân. Ta mưu trí, vừa đánh vừa bảo toàn lực lượng, bẻ gãy bảy đợt tấn công. Chúng huênh hoang gọi loa: “sư đoàn 9 bộ binh Huê Kỳ hùng mạnh, ra đi hẹn ngày đơn vị các ông tổ chức lại”. Song, nó không bao giờ trở lại vì phải bỏ lại 70 mạng.

Tháng 7-1968, du kích xã cùng bộ đội chủ lực, quyết liệt đánh trả 3 tiểu đoàn địch ở kinh Bảy Thưa, diệt 100 tên, cả ban chỉ huy tiểu đoàn. Tháng 5-1969, địch mở cuộc càn lớn liên tục 26 ngày đêm vào vùng 6 xã, với lực lượng chi khu, tiểu khu, của vùng 4 chiến thuật. Sư đoàn 31 kết hợp với hải thuyền, trực thăng. Tháng 08, 09 địch lại chà xát tàn bạo, ngày bộ binh, đêm phi pháo, trực thăng soi lùm, phát loa “Tử thần hay chiêu hồi”, rất trơ trẽn.

Đông Phước bám trụ vững, dân phá ấp chiến lược trở về, cuộc đời vẫn đẹp sao vui theo tiếng hát át tiếng bom.

Qua những năm ác liệt này, Đảng bộ Đông Phước đã chiến thắng sáng đẹp chủ nghĩa anh hùng cách mạng: “Đảng vì dân – Dân theo  Đảng”.

QUÂN DÂN ĐÔNG PHƯỚC KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH, BUỘC MỸ PHẢI KÝ HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM”.

Chiến lược chiến tranh cục bộ bị phá sản, Mỹ phải xuống thang, chuyển qua Việt Nam hóa chiến tranh với công thức “Vũ khí Mỹ cộng với quân đội ngụy, thay màu da trên xác chết”, tăng cường phương tiện chiến tranh để Mỹ, lũ chư hầu rút dần về nước.

Chúng ra sức thực hiện các chiến dịch “Bình định cấp tốc”, “Bình định đặc biệt”, “Bình định bổ sung”, từ  “Tìm diệt” quay về “Quét và giữ”. Do đó mức độ khốc liệt chiến tranh càng tăng. Tăng cường phi vụ B52, rải chất độc phát hoang địa hình, Đông Phước là một trong số trọng điểm.

Chỉ có 3 ấp: Ngã Cạy, Xẻo Chồi, Tràm Bông mà chúng đóng tới 4 tiểu đoàn, sự phản kích điên cuồng của địch gây cho ta khó khăn, tổn thất nhất định. Vùng giải phóng bị thu hẹp, chúng dồn dân ra ấp chiến lược, ta mất nhiều cơ sở.

Đảng bộ Đông Phước, đồng chí Ba Long thay đồng chí Năm Mù rút về trên; 5 tháng sau Huyện ủy Phụng Hiệp điều đồng chí Bảy Tần làm Bí thư; 7 tháng sau thay đồng chí Tư Chương; đầu năm 1969, đồng chí Tám Cao thay làm Bí thư. Đảng bộ còn lại 42 đảng viên (1968 có tới 185 đảng viên); vì một số hy sinh, một số đi bộ đội thoát ly, một số vì gia đình khó khăn, tổ chức cho tạo hợp pháp làm ăn. Đến tháng 10-1969, đồng chí Tám Cao hy sinh, đồng chí Sáu Inh làm Bí thư (Phùng Văn Inh).

Nhà cửa bị đốt phá, Đông Phước như búc tranh không còn màu xanh, hoang tàn, âm u tử khí, đêm đêm ỉ eo tiếng loa chiêu hồi càng gây phẫn nộ lòng người. Số dân bám trụ còn rất ít, mỗi ấp còn vài chục hộ, Đông Mỹ, Đông Bình, Đông Thạnh, không quá 10 hộ. Đảng bộ và du kích vẫn bám trụ ngày đánh địch, đêm thì ra bám dân, nhờ ta rút kinh nghiệm có đưa nòng cốt theo dân. Địch càng ép, dân càng hướng về cách mạng, có người không theo vợ con ra ấp chiến lược, ở lại bám với ta như ông Tư Kiệm (Đông Bình), ông Võ Trung Nhân cũng vai vác mác, lựu đạn nai nịt gọn gàng. Dân đấu tranh, sáng về làm ruộng vườn để về với cách mạng, tối ra vùng ven tránh pháo.

Xin nhắc đến chị Hai Đáng, sống về nghề mua bán, qua bao năm dài, khéo léo vượt hiểm nguy tiếp tế cho cán bộ hoặc mua những hàng bị cấm để cung cấp cho các cơ quan ta.

Anh Hai Bình (Bình trúm), sống về nghề đặt trúm bắt lươn, kiếm vừa đủ ăn, còn bao nhiêu cũng cho bộ đội, cán bộ ăn hàng ngày. Anh được xét trong diện có công với cách mạng, được thưởng huân chương. Bác Hai Lành hiến một lần 100 giạ lúa.

Đồng chí Bí thư Sáu Inh có trình bày với đồng chí Chín Khương, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy về khó khăn liên hệ giữa Đông Phước và Huyện ủy Phụng Hiệp, đề nghị nên đưa về Châu Thành sẽ hoạt động, thỉnh thị sự chỉ đạo dễ hơn.

Được sự chấp nhận của Tỉnh ủy, Đông Phước thành một xã của huyện Châu Thành. Đảng bộ chủ trương cho một số cán cộ già yếu, bệnh tật chuyển sang địa bàn khác để trị bệnh, công tác theo khả năng, cán bộ nữ thì tận dụng ưu thế về hoạt động hợp pháp để bám vào dân chỉ dạo đấu tranh trong vùng địch. Đảng viên, cán bộ trẻ, dân quân du kích ở lại bám trụ chiến đấu.

Giai đoạn này rất căng thẳng, nên đảng bộ tăng cường lãnh đạo tư tưởng; phân tích thắng lợi của ta trên toàn cục, lực ta tạm thời yếu nhưng thế ta rất mạnh, nhanh chóng chuyển thế sẽ giành thắng lợi lớn. Từ đó, giải quyết thông ý nghĩ: “về trên phân tích tình hình hình thì thấy lực lượng của địch mỏng như lá lúa, về địa phương thì thấy nó dầy như da trâu”. Đi sát từng đảng viên để giải quyết vướng mắc về nhận thức, hay trong đời sống tình cảm, nên đảng viên phát huy vai trò rất tốt, ảnh hưởng tốt ra dân.

Màu xanh niềm tin ở lòng người tô điểm dần màu đất chết, máu lửa tang thương. Xã hội cùng lực lượng khu, tỉnh tiêu diệt 3 phân chi khu ở Đông Phước, Phú Hữu, Thạnh An, bức hàng 6 đồn bót, giải tán trên 200 phòng vệ võ trang, thu hơn 100 súng các loại, chống càn hàng chục trận.

Tháng 2-1969, du kích đánh tiểu đoàn Bảo an ở Xẻo Lác, giết 28 tên (có 2 cố vấn Mỹ) thu 24 súng.

Cùng trong tháng 2-1969 máy bay đổ dù lính sư đoàn 9 ngụy xuống Đông Mỹ, du kích xã phối hợp B80 đánh quyết liệt. Sau 3 giờ, địch rút lui, 81 chết và bị thương, ta thu 45 súng.

Kế tiếp, du kích xã cùng du kích Phước Long, Phước Hòa chặn tiểu đoàn Bảo an 417 tại vàm Xẻo Lác; địch bị thiệt hại nặng, (có 1 Mỹ chết) thu 21 súng, nhiều đạn dược.

Tháng 6-1969 du kích phối hợp với một đại đội tiểu đoàn Tây Đô bắn hạ và làm bị thương 84 tên, thu 40 súng, một máy thông tin của sư đoàn 7 (bộ binh) và một đại đội biệt kích Mỹ tại Bảy Thưa (Đông Bình).

Tháng 10-1969, đội du kích với binh vận, diệt gọn đồn Mương Khai ấp Long Lợi, địch chết 6, ta thu 5 súng.

Năm 1970, bao vây đồn Cái Chanh đánh đại đội phản kích đi bọc đường Long Thạnh diệt gọn cả 100, chỉ còn vài tên. Du kích Phước Long lấy cả ghe súng. Ta tiếp tục bao vây đồn Cầu Dừa. Đầu 1971, tại Cái Muồng, ta diệt 61 tên, thu 10 súng. Ngày 19-5-1970, để dâng quà lên vị cha già dân tộc, du kích Đông Phước đánh bọn tuần tra từ đoạn lộ 19-20 (Phụng Hiệp). Ta ném lựu đạn lọt vào xe…chết cả 5 tên.

Tháng 10-1971, địch đổ quân đóng bót Cản Đất, 11 giờ đánh bót Cái Đôi.

Cũng trong tháng 10-1971, 10 giờ sáng, máy bay đổ một trung đội xuống cánh đồng Năm Trăm, đánh vào cơ quan Đảng bộ xã. Bọn địch sợ địa hình đầm lầy phức tạp nên co cụm lại. Đồng chí Bí thư Sáu Inh cho trinh sát nắm tình hình, cử đồng chí Kiệt, Xã đội phó và  đồng chí Giỏi mang gài trái đạn 105 ly, nổ súng dụ địch vào vòng, trái 105 ly nổ, chúng chết khá đông, chúng gọi tiểu khu lên tiếp viện nhưng không được, có 3 chiếc L19 và trực thăng bắn như đổ đạn. Đồng chí Kiệt bắn rơi một chiếc trực thăng HU6, chết 1 Mỹ, hàng chục máy bay khác ào tới, ta vẫn bám trụ đánh trả, hạ thêm 2 tên, một đồng chí của ta đã hy sinh. Dân hát vang bài ca “Bắn hạ máy bay” theo điệu Tam Pháp Nhập Môn.

Tức thay, lũ quân tàn bạo

Súng đây chính tay mình tạo

Chờ nó đảo lộn nghiêng nghiêng

Những người anh hùng du kích

Nhắm ngay máy bay siết cò

Đùng đùng đùng, nó bốc cháy

Kìa rồi kìa, khoái khoái quá

Chúi ngay xuống dòng sông sóng trào

Vào tháng 12-1971, đồng chí Huỳnh Thanh Diệu, Bí thư ấp Đông Bình, nắm được quy luật hàng tháng lính đồn Bảy Thưa lên Phụng Hiệp nhận tiền, nhận gạo, nhận súng đạn, được tin binh vận báo về chắn chắn. Ta gài trái dưới sông, phục kích trên bờ. Xuồng đầu có 4 tên trúng mìn lật chìm, ta bắn và xung phong lên, xuồng 5 tên đi sau cũng bị mìn nổ, tan xác 4, bị thương 1, ta rút lui an toàn.

Năm 1972 bo bo lính Phụng Hiệp vô Cầu Dừa qua Bảy Thưa lúc về bị du kích mật giăng dây chì ngang sông, bo bo vướng lủi vô bờ.

Ngày 2-9-1972 đồng chí Ba Thanh, đảng viên, ấp đội trưởng Đông Bình gài trái đạn 105 ly. Bọn tiểu khu cùng bọn đồn Ngã Tư sông Xáng do trung úy Tấn, trưởng đoàn dẫn đầu, lọt vào đường mòn gài sẵn, trái đạn nổ chết tại chỗ, có tên trung úy tiểu khu, trung úy đồn trưởng Ngã Tư, chết bị thương 17 tên.

Từ 1969-1975, anh Ba Thanh đã chế tạo lại đạn lép, đánh nổ 18 trái, diệt 81, bị thương gần 100 tên.

Ta đánh mạnh, phong trào đấu tranh chính trị cũng lên cao. Đông Phước được nhận danh hiệu “lá cờ đầu phát triển chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng” trong toàn tỉnh.

Từ 1970-1971, có 4.000 đồng bào bỏ ấp chiến lược về với ruộng vườn cũ ở các xã: Đông Phước, Thường Đông, Phú Hữu, Thạnh An, Phú Thứ.

Về binh vận, ta vận động thân nhân lính ngụy kêu gọi con em mình bỏ ngũ; ta cài nội tuyến vào đồn, vào phòng vệ dân sự, nên đã tạo được nhiều thuận lợi cho mũi quân sự chính trị.

Đảng bộ lãnh đạo quân dân Đông Phước ngày càng chủ động vươn lên từ chiến đấu đến nâng cao đời sống, góp phần cho huyện Châu Thành hoàn thành nhiệm vụ trọng điểm, làm bàn đạp tiến công ra thành phố Cần Thơ là đầu não vùng 4 chiến thuật, góp phần thắng lợi của ta trên bàn hội nghị Paris.

Tháng 2-1972, đồng chí Liễu Văn Út (Út Một) làm Bí thư thay cho đồng chí Sáu Inh về làm Chánh Văn phòng Huyện ủy Châu Thành.

Đảng bộ có 18 đảng viên, có 2 đảng viên hợp pháp: Hai Râu, Ba Dung, Tư Bé, Tám Tôn, Năm Sĩ, Chín Bình, Năm Tốt, Ba Thanh, Tư Diệu, Bảy Láng, Tám Nùng vv… Đội du kích do đồng chí Tám Nhãn chỉ huy, có một số đoàn viên. Đây là thời kỳ ác liệt tột đỉnh, bám trụ kiên cường nhất, địch vô hàng ngày đều bị đánh. Địch đóng 17 đồn Bảo an (556 tên), bốn ụ phòng vệ quân sự (150 tên), 4 ụ công sự dã ngoại bố trí 16 mìn play-mo, đoàn bình định (100 tên) làm cái gọi là “ba cùng với dân”, còn có phân chi khu Cầu Dừa, căn cứ liên đội 10.

 

 

CHƯƠNG XII

ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO QUÂN DÂN ĐÔNG PHƯỚC, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI HOÀN TOÀN CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA ĐẾ QUỐC MỸ THÁNG 1-1973 ĐẾN 30-4-1975

Trong chiến dịch mùa hè 1972-1973, ta đã giành thắng lợi to lớn, vững chắn, nhất là gỡ đồn bót và quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ sôi nổi.

Ngày 27-1-1973, Mỹ ngụy phải ký Hiệp định Paris, ở thế thua nhưng chúng phản bội ngay. Chúng cố phản kích ác liệt, tung ra chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” các đồn “nong” ra cắm bờ ba que chiếm đất, giành dân, bắt lính ráo riết đôn quân. Chúng đưa thêm 10 tiểu doàn vào Đông Phước, Phú Hữu, Tân Hòa, Thạnh Xuân.

Căn cứ Đảng bộ dời từ Xẻo Chồi (cách đồn Sáu Liểng 800 mét) về cánh đồng Năm Trăm, ở giữa lau sậy có trận địa chất nổ, hầm chông, vừa bảo vệ lực lượng, vừa bảo vệ dân. Tinh thần “một tấc không đi, một ly không rời” được nâng cao tột đỉnh. Dù phải dài ngày ăn chuối, đu đủ, bí rợ, Chi bộ và đội du kích vẫn giữ đúng lời thề:

“Giặc vô phải đi lò dò

Giặc về đứa lết, đứa bò, đứa khiêng”

Dân thương, tin đảng viên, du kích, lo lắng, nuôi dưỡng rất chu toàn. Đảng viên phát triển nhanh. Từ 7 du kích: Năm Chỉ, Bình, Nhãn, Kiệt, Năm Lê, Mười Cung, Ba Thanh. Đến năm 1973 lên đến 26 đảng viên.

Đồng chí Út Một có sáng kiến lập “Sơ đồ chính trị” (cách gọi riêng của đồng chí bí thư), phân loại quần chúng, có kế hoạch cho đảng viên, cán bộ phát huy cao độ, hành động tích cực của họ để làm đầu tàu, nâng chất lượng cách mạng nên quần chúng rất phấn khởi  đi theo Đảng đến cùng. Chiến tranh ác liệt trong đạn bom, khói lửa hàng ngày, quân dân Đông Phước xông lên lập chiến công với ba mũi giáp công.

Từ 1971-1973, ta mở mảng giải phóng nhiều ấp. Đông Phước đã trở thành căn cứ an toàn góp phần bảo vệ và phối hợp với bộ đội trên về như tiểu đoàn Tây Đô, một số đồng chí Khu ủy viên đồng chí Ba Bài, Sáu Sâm ở Xẻo Chồi, Huyện Ủy Châu Thành ở Chùa Cô. Thị xã ủy Cần Thơ ở Cái Muồng, Ngã Cạy, các đồng chí Tỉnh ủy như đồng chí Chín Khương, Tư Sến, Ba Kim, Ba Trọng về chỉ đạo 6 xã. Một số cán bộ có câu nói vui là “Từ trong lộ vòng cung về dưỡng quân ở Thạnh Xuân như về miền Bắc, về Đông Phước như đi Liên Xô”, vì nơi đây đã trở thành nơi an toàn nhờ bố phòng chặt chẽ; nhiều lúa gạo, lắm cá tôm, lại được học tập. Ban binh vận Thành ủy Cần Thơ từng tổ chức lớp huấn luyện ngắn hạn cho cán bộ, thanh niên, trí thức, sĩ quan và binh lính nội tuyến ngoài thành vào học. Đất trời Đông Phước bom cày đạn xé trở thành căn cứ vững chắc, vì có lòng dân.

Trận đánh đồn Xẻo Chồi 1972, là trận đánh binh vận đẹp, chiến thuật hay, táo bạo, sử dụng yếu tố bất ngờ.

Theo lời kể của đồng chí Bí thư Út Một, chỉ huy trận này: “Lính đồn Xẻo Chồi có hai trung đội dân vệ, tên Mai Vưn Đoàn mê cô Năm là con một gia đình cơ sở cách mạng có 3 liệt sĩ: Hai Sót, Tư Cụt, cha là Ba Bá Đỏ, mẹ là Ba Mậu. Lê Văn Hưởn (Mười Hưởn) là trưởng màn lưới Phượng Hoàng (gián điệp ở Phụng Hiệp) đã được ta thuyết phục, đưa nguyên bút báo cáo gián điệp cho đồng chí Tôn, Xã đội trưởng, qua cô Năm (gọi Hưởn là dượng rể). Xã đội phó Nhãn là anh em chú bác ruột với Đoàn, nhận từ tay Đoàn bảng sơ đồ bố phòng của đồn. Đồng chí Ba Ứng, Huyện ủy viên xuống chỉ đạo, cùng đồng chí Út Một phân tích, phán đoán: Vì Đoàn là cơ sở quá mới, đồng chí Út Một trực tiếp gặp Đoàn, Đoàn mang ra cho ta một khẩu súng lấy của bạn; đồng chí Út Một kết nạp ngay tại chỗ: Đoàn là đoàn viên. Anh Đoàn gác vọng canh từ chợ đi vào, ám hiệu là quẹt 3 cái hút thuốc. Đồng chí Ba Ứng hơi đắn đo phương án “Yếu tố bất ngờ” là ta hành quân trên lộ. Đồng chí Út Một nghĩ rằng địch cho là ta không dám đi trên lộ, nên chúng có thể tưởng là quân của chúng. Huyện tăng cường đồng chí Nhiều đại đội trưởng đại đội 1, địa phương quân với khẩu “Kôlinốp”. Đúng 12 giờ đêm nổ súng, chớp nhoáng 7 phút, diệt 4 tên lấy 3 AR15, 1 Colt, 1 máy PCR25. Qua trận này ta rút kinh nghiệm là có thể nên cài anh Đoàn ở lại tốt hơn.

Tháng 9-1973 du kích phối hợp Tiểu đoàn Tây Đô bao vây đồn Sáu Liểng của đại đội 225 ở Xẻo Chồi, đánh công đồn đả viện, diệt 10 tên có đại úy Nguyễn Phước Kiến, Trưởng ban tác chiến 3 của Phụng Hiệp.

Ngày 22-4 bức rút đồn này, có ý nghĩa mở mảng rất lớn. Sau đó bức rút đồn Tràm Bông.

Đồng chí Bảy Láng, đảng viên phụ trách ấp Phước Long bị biệt kích bắt  (sau đày đi Côn Đảo) đồng chí Út Một chỉ định đồng chí Sáu Ổn thay đồng chí Nguyễn Văn Trọng (Hai Trọng), trưởng ban công an xã là đảng viên lâu năm, đóng góp nhiều cho lãnh đạo Đảng bộ, đảng viên hợp pháp Nguyễn Văn Thôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nắm địch tính, vẽ sơ đồ chuẩn bị đánh bót Cầu Dừa rất ác ôn (1978 đồng chí Thôi là Chủ Tịch Ủy ban nhân dân xã Đông Phước).

Ba đồng chí du kích đánh bọn biệt kích đi xuồng ở Kinh Sáng lấy 1 M79, nhiều đạn.

Hai mươi du kích xã bao vây, bắn 04 trái mọt chê, M72 tên xã phó Muôn chạy về Cầu Trắng, ta lấy bót Tràm Bông, song song, ta tăng cường diệt tề điệp.

Ba giờ chiều, đồng chí Mười Cung bắn hụt tên trưởng ấp Ba Mùi, sau đó ta phục kích tại nhà Tư Đực, tước súng bọn phòng vệ dân sự mang súng về nhà, trở lên đồn đi học, được 3 carbine, 1 garant. Sau đó ta bao vây rượt tên Chín Ngựa, đại đội phó biệt kích giả là cán bộ trà trộn vào Đông Phước.

Về binh vận, ta phát triển nhanh nội tuyến như đồn Bảy Thưa (có đồng chí Liêm), Võ Văn Trí (ụ phòng vệ Bảy Thưa) và nhiều đồn bót khác. Lính sư đoàn 9 thua ở U Minh về đóng ở Cái Nhum, ta cùng dân vận động ra ngũ 30 tên (đồng chí Út Một đưa dẫn 2 tên), vợ con binh lính vào đồn Sáu Liểng chở chồng ra đầu hàng ta. Tràm Bông ra 3 tên.

Cũng cần nhắc lại chiến công của nữ đồng chí Lê Ngọc Trước trong Ban Chấp hành Phụ nữ xã, đã tuyên truyền, giác ngộ được 1 trưởng đồn, 3 dân vệ mang về cho ta 4 súng, hơn ngàn viên đạn.

Lực lượng ta mạnh lên, 26 du kích cùng đồng chí Út Một quyết liệt chống càn, địch vô là bị đánh, bỏ thây hoặc khiêng về vì bị chất nổ.

Cuối 1973, Đảng bộ Đông Phước được xác nhận là Đảng bộ vững mạnh. Đông Phước được khen thưởng Huân chương Chiến công hạng 3 du kích diệt, làm bị thương 196 địch, 68 trận đánh và bao vây diệt gọn 1 đồn. Địch cố đóng chốt ở căn cứ lõm, những nút trên hành lang huyện này qua huyện khác. Cố sức giành đất giành dân, nhưng dân ta đấu tranh, trở về làm ruộng vườn ngày càng đông.

Sau vài tháng, ta dứt điểm đồn Năm Kim, đồn Cản Đất, du kích xã đuổi một đêm 3 đồn là đồn Hai Lân, đồn Bảy Mực, đồn vàm Ngã Cạy. Hai du kích đi xem văn công tỉnh diễn, đồng chí Út Một dặn khi đi ngang qua 3 đồn trên bắn 1 loạt đạn kôlinốp và M79. Ba đồn sợ quá chạy về đồn Cái Chanh. Du kích nhờ máy phóng thanh của đoàn văn công đang diễn báo tin, bà con kéo về san bằng luôn cả 3 đồn.

Các u phòng vệ võ trang ở ngã tư Đông Phú, vàm Ngã Cạy, Xẻo Chồi tự  rã ngũ.

Năm 1974, du kích kết hợp địa phương quân đánh bật 1 tiểu đoàn địch, diệt  2 tên trung đội trưởng và phó (Hai Lọ, Út Chuồn). Ta bao vây đả viện. Trận này anh Phước, Huyện đội trưởng chỉ huy, Út Một là phó. Địch ở Phụng Hiệp treo giải thưởng 100.000đ lấy đầu Út Một.

Đồn Ngã Sáu nổi tiếng ác ôn, phách lối cũng co cụm lại, phản kích kịch liệt gọi cứu viện không được, bỏ đồn tháo chạy.

Cuối 1974, Đông Phước đã giải phóng 3/4 xã, chỉ còn đồn Cầu Dừa, Xẻo Lác, rồi cũng phải bỏ đồn tháo chạy.

Tháng 3-1974, quân dân Đông Phước giải phóng hoàn toàn xã nhà.

Đông Phước  nô nức chuẩn bị cho chiến dịch tổng tấn công.

Đông chí Tám Nùng thay đồng chí Út Một làm bí thư.

Ngày 24-4-1975, Đông Phước lập đại đội 3, địa phương quân huyện Châu Thành trên 50 chiến sĩ, đồng chí Út Một làm chính trị viên. Đại đội 3, từ Đông Phước tiến về giải phóng Cái Răng chiếm thành Cả Đạt, hậu cứ 481 và chi khu.

Thế là, 6 dòng kinh giăng đầy đỏ rực cờ sao, đồng lúa vang lên tiếng hát “Giải phóng miền Nam”, “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, nụ cười rạng rỡ.

Đông Phước trở thành đất anh hùng, vì có nhân dân, có những đảng viên tiên phong anh hùng.

Vinh quang đời đời này thuộc về Đảng ta, Đảng bộ bám sát đất mẹ, bám dân “một tấc không đi, một ly không rời”, biến căm thù thành sức mạnh vô địch, trải qua 31 năm dài cực kỳ gian lao, máu lửa, qua mấy độ thăng trầm trên đường trường chinh, máu xương nở hoa chiến thắng. Đông Phước: bản anh hùng ca tiếng hát át tiếng bom, nhận chìm lũ ngoại xâm dã man, hiện đại nhất trong cuộc đối đầu lịch sử.

Đảng bộ và quân dân Đông Phước được quyền tự hào, vì trên mãnh đất vùng sâu nhỏ bé cơ cực và lửa máu này, cờ Đảng luôn phất cao; chỉ trong 21 năm chống Mỹ, đã hiến dâng tổ quốc 443 đồng chí hy sinh, 93 đồng chí thương binh, 700 gia đình trung kiên đóng góp sức người sức của cho cách mạng và 221 đồng chí cho bộ đội chủ lực miền Nam. Lá cờ đầu chiến tranh du kích Đông Phước lấp lánh ánh sao. 1.586 huân chương kháng chiến (nhất, nhì, ba), 89 huy chương  chiến công, 39 bằng khen trung ương, 46 bằng  khen của tỉnh.

Trong kháng chiến chống Mỹ, quân dân Đông Phước đã chống càn hơn 500 trận lớn nhỏ, tiêu biểu là 27 trận, có 6 trận tiêu diệt gọn. Đánh 102 lượt đồn bót, bức rút, bức hàng 28 lượt, đánh bại 7 tiểu đoàn, 1 sư đoàn, 3 đại đội (có 1 đại đội biệt kích Mỹ), 11 trung đội, diệt 1 phân chi khu, bắn rơi 2 máy bay, thu 442 súng các loại, hàng loạt viên đạn, khí tài. Loại khỏi vòng chiến đấu 47 giặc Mỹ và 2.500 lính ngụy. Hơn 5.000 con em thoát ly đi kháng chiến. Hơn 60 trận đấu tranh chính trị lớn nhỏ, với 23.000 lượt đội quân tóc dài xuất trận. Phong trào binh trận góp phần phối hợp tiêu diệt đồn bót, trên 290 lính mang 60 súng về với nhân dân.

Tất nhiên con số trên chưa đủ, sẽ còn nhiều hơn, nhưng cũng đã xứng đáng với danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Thành kính dâng tràng hoa tiếc thương, đời đời nhớ ơn đến những đồng chí, đồng bào Đông Phước  ngã xuống cho màu cờ chiến thắng rực rỡ hôm nay, đến những đảng viên ưu tú: Ngô Hữu Hạnh, Bùi Tâm Bảo, Ba Ca, Trần Văn Duyên (Chín Mẫn), Trần Văn Năm (Năm Mù), Trương Văn Cao (Tám Cao), Ba Long, Mai Văn Nho, Út Oanh, Thiểu, Nguyễn Văn Rớt v.v…

Trân trọng chào đón những tấm huân chương, huy chương chiến công nhà nước phong tặng các mẹ anh hùng, các bà, các chị đội quân tóc dài, những gia đình có công, những gia đình có 3 thế hệ kháng chiến như đồng chí Phạm Chánh Mỹ, những du kích bám trụ kiên cường, nhiều chiến công như: Nguyễn Văn Thanh, Bùi Nhật Ổn, Phạm Huỳnh Mai, Thái Văn Đông, Lê Văn Bình; Nguyễn Hữu Dung, Nguyễn Thành Vạn, Nguyễn Phước Tống, Nguyễn Văn Chơi (Ba Long), Tư Chương, Bảy Tần, v.v…

Sau cùng, xin gắn bông sen đỏ thắm lên trái tim các đồng chí bí thư: Phạm Chánh Mỹ, Phùng Văn Inh, Liễu Văn Út, Lê Văn Tuôi (Tám Nùng) v.v… tay phất cờ, tay cầm súng xung trận.

Truyền thống anh hùng là niềm tự hào, mãi mãi là tấm gương trong ngần cho Đảng bộ và quân dân Đông Phước sáng mắt, sáng lòng trên đường mới xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam huy hoàng dưới cờ Đảng anh minh.

 

BÀI HỌC KINH NGHIỆM

 

BÀI HỌC THỨ NHẤT

NẮM VỮNG VÀ VẬN DỤNG LINH HOẠT SÁNG TẠO

ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC-DÂN CHỦ NHÂN DÂN

CỦA ĐẢNG PHÙ HỢP VÀO ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CỦA ĐÔNG PHƯỚC ĐỂ HOÀN THÀNH SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ

 

Từ 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, đến 1938 chi bộ Đông Sơn, Thường Phước đã vững vàng lãnh đạo nhân dân làm nên lịch sử hào hùng của Đông Phước. Đó là thành quả của quá trình giác ngộ, vận động cách mạng Việt Nam của lãnh tụ thiên tài Nguyễn Ái Quốc đưa về tổ quốc mình. Hoạt động xuất sắc của các đảng viên tiền bối trong “An Nam Cộng Sản Đảng”, Đặc ủy Hậu Giang và Liên Tỉnh ủy Hậu Giang đã gieo hạt giống đỏ trên đất cách mạng Đông Phước.

Đảng bộ Đông Phước thấm nhuần đường lối cách mạng dân tộc dân chủ, vận động linh hoạt trải qua nhiều thời kỳ thăng trầm, để lãnh đạo nhân dân giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, góp phần đánh bại đế quốc sừng sỏ, đã giải phóng và thống nhất nước nhà. Vừa ra đời, chi bộ đưa nhân dân đấu tranh thắng lợi trong cao trào dân chủ thời kỳ mặt trận bình dân. Mới hơn 2 tuổi, Đảng bộ Đông Phước đã là một mũi xung kích trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ; dù chưa thành công nhưng là cuộc biểu dương xu thế lịch sử, một cuộc tập dượt cho cuộc tổng khởi nghĩa cách mạng thành công tháng 8-1945.

Với sự vận dụng đúng đắn, linh hoạt đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, với phẩm chất trong sáng, tiên phong, người đảng viên trở thành trung tâm khối đại đoàn kết trên nền tảng công nông liên minh, người cầm lái vững vàng con thuyền giải phóng, vượt qua bão tố điên cuồng, nhất là thời kỳ đánh Mỹ. Với ý kiến kiên cường tiến công sáng tạo, đảng viên trở  thành tấm gương thuyết phục một số người lầm đường, một số tín đồ tôn giáo bị bọn phản động lừa bịp, o ép. Ưu việt hơn, đã giác ngộ một số lớn người của giai cấp đối kháng, họ trở thành điền chủ khai minh, cả con cháu họ đứng vào hàng ngũ Đảng, hoặc tham gia hai cuộc kháng chiến thần thánh. Khối đại đoàn kết ngày càng phát triển là sức mạnh vô địch, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Từ những tháng ngày cùng cực, thực dân Pháp đàn áp trong biển máu sau Nam kỳ khởi nghĩa, đến những năm đen tối, tay không thắng chiến tranh đơn phương của Mỹ Diệm, ngọn cờ dân tộc dân chủ vẫn sống trong tim đồng bào Đông Phước, chuẩn bị cho cờ đồng khởi phất cao vẫy gọi toàn dân miền Nam đứng lên vây khốn quân thù trong lửa chiến tranh nhân dân, phát triển mặt trận bạo lực chính trị, là một sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ Đông Phước.

Đường lối ấy là ánh sao soi đường xuyên suốt cho cách mạng miền Nam, dù trong thời kỳ thoái trào ác liệt nhất, Đảng bộ Đông Phước luôn linh hoạt, sáng suốt đánh giá đúng lực lượng ta và địch, tìm ra phương châm, phương thức đánh địch, từ tay không đến vũ khí tối tân của nhà Trắng thâm độc, tàn bạo nhất thế giới.

Dù ở tình huống nào, Đảng bộ quyết hy sinh để đạt được mục tiêu giải phóng và giành độc lập, vâng lời Bác Hồ: “Thà hy sinh tất cả, nhất quyết không chịu mất nước, nhất quyết không chịu làm nô lệ”. “Không gì quý hơn độc lập tự do”.

Đường lối sáng suốt của Đảng, sự thông minh sáng tạo kiên gan bền bỉ của Đảng bộ và niềm tin yêu Đảng của nhân dân là những yếu tố cơ bản tạo nên Đông Phước anh hùng.

 

BÀI HỌC THỨ HAI

VÌ NHÂN DÂN QUÊN MÌNH

 

Quan điểm quần chúng của Đảng ta là tin dân – dựa hẳn vào dân. Từ đó mọi hành động của đảng viên đều phải vì dân, do dân, khẳng định lý tưởng vì dân quên mình. Nhìn lại lịch sử, ta tự  hào về đảng viên Đông Phước, giữ đúng lời thề đó  trước cờ Đảng.

Dân bám đất, Đảng bám dân, với tinh thần bám trụ “một tấc không đi, một ly không rời” Đảng bộ Đông Phước tin dân, biết giáo dục, phát động dân, chỉ ra con đường cách mạng dưới cờ Đảng Cộng sản, một tổ chức giải phóng con người hợp tiến trình lịch sử.

Từ thời kỳ bí mật, Đảng ta tổ chức những hội quần chúng bí mật, tổ chức hợp pháp biến tướng để đấu tranh từ thấp lên cao, Đảng bộ đã đánh giá đúng sức mạnh vô địch của quần chúng khi có sự lãnh đạo của Đảng chân chính, mà mốc son là cuộc khởi nghĩa cách mạng tháng 8-1945.

Vâng lời vị cha già kính yêu cảu dân tộc – Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ đã phát động nhân dân Đông Phước đứng lên với ngọn tầm vông, giáo mác, cuốc xuỗng cùng đồng bào Nam bộ xây nên thành đồng Tổ quốc.

Mỹ - Diệm phủ màn đêm thê lương trên xóm làng, tàn bạo lê máy chém đi hù dọa, người đảng viên càng tin dân sẽ tìm ra cách rửa hận. Dù có đốn hết tre, trúc, lau, sậy làm giấy cũng không thể viết hết những hành động, đùm bọc, che giấu trong vách đôi, hầm bí mật, kể cả hy sinh tính mạng để bảo vệ những đảng viên “điều lắng”, mà dân tin yêu gọi là “hột gạo cội” của cách mạng. Đông Phước có căn cứ an toàn là lòng dân. Vì thế, dù ở hầm tối, ánh sáng tình dân nghĩa Đảng vẫn ấm áp, trí tuệ sáng để đảng viên tìm ra phương châm lãnh đạo nhân dân chống giặc.

Từ 1969-1975, giặc run sợ nhưng cũng gắng dốc hết sức tàn để biến Đông Phước thành “tọa độ lửa”, mưa bom, bão đạn nhưng Đảng bộ và nhân dân cũng tìm ra cách đánh, biến đất mẹ thành tử địa hạ gục chúng bằng ong vò vẽ, bằng chất nổ, hầm chông, vũ khí cướp của giặc: những cái đầu ngu xuẩn của Ngũ Giác Đài, Huê Kỳ, không thể hiểu nổi những kiểu chết do vũ khí thô sơ, vũ khí của lòng căm thù.

Đảng viên vì dân mà hy sinh, dân vì Đảng mà chiến đấu, vượt bất cứ hoàn cảnh sóng gió tưởng chừng không vượt nổi.

Mặt khác Đảng luôn chăm lo đời sống của dân, phong trào sản xuất, văn hóa, giáo dục, y tế vùng giải phóng lên cao. Quan tâm giải phóng và đề cao vai trò phụ nữ là tầng lớp chịu thiệt thòi nhất, đã thành đội quân tóc dài vô địch, những bà mẹ anh hùng.

Đảng đã cấp đất cho dân cày, hướng dẫn canh tác nuôi trồng. Phong trào “Tiếng hát át tiếng bom”, nâng cao tình yêu người, yêu đời. Dân trí nâng cao đảm bảo yêu cầu cho từng cuộc đấu tranh chính trị, binh vận, bồi dưỡng kỹ thuật chiến đấu lên mức khoa học, nghệ thuật. Xa hơn nữa, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa xây dựng đất nước mai sau.

Đảng bộ đã xứng đáng với lời dạy của Bác:

“Dễ trăm lần không dân cũng chịu

Khó vạn lần dân liệu cũng xong”

Đất anh hùng Đông Phước thật là:

“Tình dân nghĩa Đảng mênh mông

Sáu dòng Ngã Sáu xanh trong sáng ngời”

 

BÀI HỌC THỨ BA

XÂY DỰNG ĐẢNG

Đảng bộ lãnh đạo nhân dân, cần phải xây dựng Đảng mạnh, trong sạch từ ý chí đến hành động.

Trước hết phải xem trọng đoàn kết như con ngươi mắt mình. Rèn luyện trong chiến đấu, nâng cao trình độ, phẩm chất trong học tập, trong thực tiễn phong trào. Dân nghe Đảng, Đảng bộ nghe dân để phê bình, tự phê bình, nên trong tình huống bất lợi nào, Đảng bộ cùng dân đều tìm ra phương hướng, phương châm thích hợp đưa phong trào đi lên. Về nghe dân, cũng cần nhắc lại câu nói của vợ khuyên chồng “Anh đi đầu hàng, em cắn lưỡi chết” – Đó là lời khí tiết vàng ngọc của phụ nữ Đông Phước.

Từ 1969-1972, từ 1973-1975, chiến tranh đến mức tàn khốc tột đỉnh. Đảng viên phải nhịn đói khát dài ngày, ở dưới hầm phủ lá khô chịu nắng cháy mưa dầm, bom pháo liên hồi, ngày chiến đấu, đêm ra vùng ven đầy nguy hiểm để bám dân. Đảng bộ từ bí thư như đồng chí Sáu Inh, Út Một đến chi ủy càng bám sát đảng viên làm công tác tư tưởng, giải quyết vướng mắc, nâng cao ý chí tiến công.

Có thể tự hào rằng, các đồng chí bí thư, cấp ủy đều tay phất cờ chỉ đường, tay giương súng diệt địch, và từ 1969 -1975 toàn thắng, chưa có một đảng viên, một du kích nào buông súng.

Đảng bộ anh hùng thì dân sẽ anh hùng. Bài học xây dựng Đảng từ thực tiễn kết hợp lý luận, bài học quý báu bằng xương máu ấy, đã được Đảng bộ Đông Phước thừa kế xuất sắc trong hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lập nhiều thành tích xứng đáng với Huân chương Chiến công hạng nhì sau 15 năm giải phóng.

 

BÀI HỌC THỨ TƯ

PHÁT HUY QUAN ĐIỂM BẠO LỰC

CÁCH MẠNG

 

Cách mạng Xô Viết tháng 10 Nga đã chứng minh quan điểm bạo lực cách mạng. Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: “bạo lực là bà đỡ cho cách mạng cướp chính quyền”.

Cuộc cách mạng Việt Nam thành công đã phát triển quan điểm này.

Trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, Đảng bộ Đông Phước đã phát huy rất sớm quan điểm bạo lực. Đối với bọn thực dân đế quốc chỉ một con đường, một mất một còn, không thể có ảo tưởng hòa bình.

Có thể nói rằng cuộc cách mạng miền Nam đã đóng góp làm phong phú thêm học thuyết trên, chưa có cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nào trên thế giới có “Đội quân tóc dài” đánh thắng Mỹ võ trang từ chân đến răng. Đội quân tóc dài trong mặt trận đấu tranh có tổ chức chặt chẽ, chỉ huy từng trận mà vũ khí là trái tim căm thù, lý lẽ thông minh sáng rực chân lý, vừa là đầu tàu, vừa là hậu thuẫn cho mặt trận quân sự và binh vận. Họ chỉ là người nông dân nghèo theo Đảng, chân lấm tay bùn, ít học, nhưng lý lẽ từ ý chí của họ đã làm cho bọn đầu xỏ Nhà Trắng phải câm họng, điên đầu, bọn tay sai giết người phải hạ súng. Đồng khởi toàn miền Nam là đỉnh cao của bạo lực chính trị. Tiếng trống, mõ, tiếng thét long trời của đoàn người cầm gậy gộc, mã tấu, phảng kéo cổ là tiếng sấm báo hiệu ngày tàn của cường quyền. Trận địa chiến tranh nhân dân từ bãi chông, hầm chông có tổ ong vò vẽ, súng kép, súng ngựa trời, chất nổ tự tạo, trái nổ cải tạo từ bom, đạn, pháo lép của địch là nơi giặc bỏ xác, bỏ súng lại trang bị cho ta. Cả đồn bót cũng là kho vũ khí trang bị dần cho du kích ta. Bạo lực âm thầm cũng nằm trong phong trào “Súng Mỹ lòng ta”.

Đảng ta vận dụng tài tình quan điểm: Thế và lực. Lực ta tạm thời yếu, nhưng thế ta là thế đứng trên đầu thù, vì ta có chính nghĩa và ý chí cả dân tộc. Đảng bộ Đông Phước nhuần nhuyễn bài học này, nên dù đối mặt với bom đạn, với cái chết giặc đổ ập xuống đêm ngày, quân dân vẫn đứng vững thế bám trụ, càng đánh ta càng mạnh, đưa cuộc chiến đấu ba mũi giáp công đến đỉnh cao nghệ thuật, chuyển thế với tốc độ thần kỳ.

Vì thế cuộc đọ sức cuối cùng trong chiến dịch tổng tấn công mùa Xuân 1975 ta toàn thắng giữ nguyên vẹn thành phố, ít hao xương máu. Đông Phước hoàn toàn giải phóng sớm trước từ tháng 3-1975.

Truyền thống cách mạng chiến thắng, những kinh nghiệm trên là hành trang quý giá có một không hai cho lớp cháu con Đông Phước xây đời hạnh phúc.

Đảng bộ Đông Phước anh hùng

Cháu con noi dấu bước cùng hùng anh,

 

 

 

 

 

 

DANH SÁCH MẸ VNAH XÃ ĐÔNG PHƯỚC

 

01. Huỳnh Thị Trà            SN 1912

02. Huỳnh Thị Huê           SN 1910

03. Nguyễn Thị Biên         SN 1903

04. Nguyễn Thị Sáu           SN 1912

05. Lê Thị Kỷ                    SN 1922

06. Bùi Thị Thơ                 SN 1902

07. Lê Thị Kim                  (1905)              ấp Long Lợi

08. Bùi Thị Thi                                           ấp Long Lợi

09. Nguyễn Thị Biền                                   ấp Long Lợi

10. Hồ Thị Huôi                  (1923)             ấp Hưng Thạnh

11. Lê Thị Lài                      (1912)            ấp Tân Thuận

12. Lê Thị Chọn                                           ấp Tân Thuận

13. Lương Thị Ngán                                    ấp Long Lợi

14. Đặng Thị Đồ                                          ấp Phước Hòa

15. Huỳnh Thị Hai                (1915)           ấp Hưng Thạnh

 

 

NHÂN CHỨNG ĐÃ GẶP

 

01. Phạm Chủ Lực (Năm Mỹ): BT 1948

02. Phùng Văn Inh: BT 1969

03. Liễu Văn Út: BT 1972 – 4/1975

04. Lê Thành Trung: BT 1954

05. Lê Đình Thu: P.BT – Xã đội phó 1951

06. Nguyễn Hữu Dung: Đảng viên 1946

07. Bùi Nhật Ồn: Xã đội phó – Đảng viên 1962

08. Phạm Huỳnh Mai: BCH PN xã – Đảng viên 1963

09. Nguyễn Văn Thanh: Đảng viên 1970

10. Lê Văn Thượng: Du kích – Quốc vệ đội Cần Thơ

11. Nguyễn Thành Vạn: Đảng viên 1963 (du kích, bộ đội chủ lực)

12. Nguyễn Phước Tống: Đảng viên 1948 (du kích, bộ đội chủ lực)

13. Nguyễn Hà Phan: Thành ủy viên Cần Thơ

14. Phạm Trọng Yêm (Chín Công): BT Châu Thành 1958 – 1960; Phó BTC TW Đảng

15. Trần Văn Mến: BT Châu Thành B 1966

16. Phạm Duy Khương: Thường vụ tỉnh ủy Cần Thơ

17. Trần Minh Sơn (Bảy Mạnh): Quyền BT Phụng Hiệp 1960

18. Trần Văn Có

19. Trần Văn Tốt

20. Nguyễn Văn Bé

21. Nguyễn Thị Đáng

 

 

DANH SÁCH LIỆT SĨ XÃ ĐÔNG PHƯỚC

 

 

TT

HỌ VÀ TÊN

NĂM SINH

GHI CHÚ

01

02

03

04

05

06

07

08

09

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

32

33

34

35

36

37

38

39

40

41

42

43

44

45

46

47

48

49

50

51

52

53

54

55

56

57

58

59

60

61

62

63

64

65

66

67

68

69

70

71

72

73

74

75

76

77

78

79

80

81

82

83

84

85

86

87

88

89

90

91

92

93

94

95

96

97

98

99

100

101

102

103

104

105

106

107

108

109

110

111

112

113

114

115

116

117

118

119

120

121

122

123

124

125

126

127

128

129

130

131

132

133

134

135

136

137

138

139

140

141

142

143

144

145

146

147

148

149

150

151

152

153

154

155

156

157

158

159

160

161

162

163

164

165

166

167

168

169

170

171

172

173

174

175

176

177

178

179

180

181

182

183

184

185

186

187

188

189

190

191

192

193

194

195

196

197

198

199

200

201

202

203

204

205

206

207

208

209

210

211

212

213

214

215

216

217

218

219

220

221

222

223

224

225

226

227

228

229

230

231

232

233

234

235

236

237

238

239

240

241

242

243

244

245

246

247

248

 

TRẦN VĂN TRUNG

NGUYỄN VĂN BẢY

HỒ VĂN CUÔL

HỒ VĂN SỮA

PHẠM VĂN CA

NGUYỄN VĂN AN

NGUYỄN VĂN DỄ

THÁI VĂN DŨNG

TRẦN VĂN NĂM

NGUYỄN VĂN MẬU

CHÂU VĂN TRẠNG

HUỲNH VĂN CHIÊM

LÊ VĂN LUÂN

HỒ VĂN TUI

TRƯƠNG VĂN DỠ

VÕ VĂN VÂN

LÊ VĂN THÔNG

TỪ VĂN VỌNG

TRẦN VĂN NHO

TỪ VĂN NGHIÊM

LÊ THỊ THANH

NGUYỄN VĂN KIỂN

PHAN VĂN BÊN

NGUYỄN VĂN TRỪ

LÊ VĂN LANG

HỒ VĂN CÂN

NGÔ VĂN THANH

HỒNG VĂN ĐỔI

HÀ VĂN THẮNG

LÊ VĂN HIỆP

BÙI VĂN GẦN

HÀ VĂN ĐÔI

NGUYỄN VĂN BẢY

TRẦN VĂN QUẬN

NGUYỄN TẤN THÀNH

LÂM VĂN MỪNG

TRẦN VĂN PHẢI

NGUYỄN VĂN NGỮ

HỒ VĂN TƯ

NGUYỄN THANH TÙNG

NGUYỄN VĂN XUNG

NGUYỄN VĂN ĐIỂN

BÙI THỊ HỶ

LÊ VĂN SỈ

NGUYỄN VĂN SÁU

NGUYỄN VĂN SƠN

VÕ VĂN TUYẾN

NGUYỄN VĂN ĐẠO

THÁI VĂN LONG

NGUYỄN VĂN THẮNG

LÊ VĂN SÙNG

LÊ VĂN HUNG

MAI VĂN TRUNG

NGUYỄN VĂN ÚT

NGUYỄN VĂN ÚT

NGUYỄN VĂN KHANH

TRẦN VĂN CỐC

NGUYỄN VĂN HẠNH

LÊ VĂN HÙNG

BÙI THIỆN CĂNG

BÙI VĂN HẢO

LÊ MINH KHÔI

LÊ VĂN TÁM

MAI VĂN NĂM

HỒ MINH THIỆN

TRẦN VĂN TRÌNH

NGUYỄN VĂN NĂNG

NGUYỄN VĂN BÉ LỚN

ĐOÀN VĂN HUỲNH

NGUYỄN NGỌC EM

ĐINH VĂN TRÍ

NGUYỄN VĂN HOÀNG

ĐOÀN VĂN ĐỨC

HUỲNH VĂN NGUYÊN

PHẠM VĂN BẢY

PHAN THỊ CHÍNH

ÔN QUỐC TUẤN

HỒ VĂN THÂU

LÊ VĂN KÍNH

NGUYỄN HOÀNG DÂN

NGUYỄN VĂN TẦN

HỒ VĂN TIỆN

LÊ HOÁNG PHAO

MAI VĂN ẨM

NGUYỄN VĂN CHỨA

HỒ THỊ SÂM

NGUYỄN VĂN NHUNG

NGUYỄN VĂN NHUNG

TRẦN HOÀNG MINH

NGUYỄN VĂN MỘT

NGUYỄN NGỌC EM

NGUYỄN VĂN THỌ

NGUYỄN VĂN TÀI

LƯƠNG HOÀNG NHI

ĐÀO HOÀNG ĐẢO

BÙI VĂN TRIỆU

TRẦN VĂN HAI

NGUYỄN THỊ CẦM

VÕ VĂN LUYẾN

HÀ KIM SƠN

CAO VĂN CA

NGUYỄN VĂN THANH

VÕ VĂN VINH

NGUYỄN VĂN BA

ĐOÀN VĂN LONG

HỒ VĂN NHI

NGUYỄN VĂN HƯNG

ĐINH VĂN TÂM

LƯU VĂN HAI

NGUYỄN VĂN MƯỜI

ĐOÀN VĂN HIẾN

NGUYỄN VĂN TỔNG

LÝ VĂN VÂN

TRẦN VĂN ĐÔNG

TRẦN VĂN ĐÔNG

PHAN VĂN HỔ

TRẦN VĂN DƯƠNG

TRẦN VĂN BẢY NHÁNH

VÕ VĂN TÁNH

NGUYỄN VĂN HÒA

TRẦN VĂN MÙNG

NGUYỄN VĂN THÀNH

NGUYỄN VĂN HIỆP

HUỲNH VĂN TƯ

NGUYỄN VĂN THÀNH

TRẦN VĂN BA

HUỲNH TRÍ CƯỜNG

TRẦN VĂN BA

NGUYỄN THẾ KHÂM

VƯƠNG THỊ TỨ

NGUYỄN VĂN THANH

TRẦN VĂN Ở

TRẦN VĂN THANH

LÊ VĂN HÙNG

NGUYỄN VĂN SÁNG

NGUYỄN VĂN CHÀNG

BÙI VĂN TRIỆU

NGUYỄN VĂN HAI

TRẦN VĂN LỄ

NGUYỄN VĂN PHƯỚC

LÊ VĂN HIỆP

NGUYỄN VĂN ĐẠO

ĐẶNG VĂN HẢI

NGUYỄN VĂN HAI NHỎ

NGUYỄN VĂN GÀN

LÊ THANH HÙNG

NGUYỄN VĂN TƯ

LÊ VĂN TỐT

NGUYỄN TẤN TÀI

DIỆP VĂN HÓ

TIẾT THÀNH CÔNG

PHẠM VĂN NGỮ

NGUYỄN VĂN BÁ

LÊ VĂN XA

VÕ THANH BÌNH

ĐẶNG HOÀNG LÂM

PHẠM VĂN PHÓ

NGUYỄN VĂN NHỜ

NGUYỄN THANH PHONG

HUỲNH VĂN PHẤN

NGUYỄN VĂN LANH

NGUYỄN VĂN BÉ NĂM

LÊ VĂN VIỆT

TRẦN VĂN BA

NGÔ VĂN HIẾU

NGUYỄN VĂN TÒNG

LÊ VĂN BÉ

NGUYỄN VĂN LUYẾN

LÊ THÁI HOÀNG

NGUYỄN VĂN BÁ

DƯƠNG VĂN SÍA

TRẦN VĂN ĐANG

LÊ VĂN TẦN

ĐINH VĂN MẪN

TRẦN VĂN HAI

LIỄU CHIỀU GHI

LÊ VĂN THẠCH

NGUYỄN HOÀNG THANH

TRẦN VĂN CƯU

VÕ VĂN TUÔL

NGUYỄN VĂN NIÊN

NGUYỄN VĂN CHỨA

NGUYỄN VĂN QUÂN

PHẠM VĂN TRẢI

THÁI VĂN RĂNG

NGUYỄN VIỆT HÒA

NGUYỄN VĂN TÙNG

LÊ VĂN TƯ

VÕ THÀNH TÂM

NGUYỄN VĂN HOÀNG

NGUYỄN VĂN CHÁNH

NGUYỄN VĂN ĐEN

TRẦN NGỌC SƠN

T6ANG8 VĂN BẢY

BÙI VĂN THẠNH

LÊ VĂN HUYỀN

HUỲNH VĂN TÒNG

TRẦN VĂN HIỆP

NGUYỄN THANH LIÊN

MAI VĂN NHÃ

NGUYỄN VĂN TÁM

NGUYỄN VĂN PHẤN

HÀ VĂN THỰC

NGUYỄN VĂN DỄ

ĐẶNG QUỐC THỚI

ĐINH VĂN HUỲNH

TRƯƠNG THÀNH LONG

TRƯƠNG VĂN NHÀN

NGUYỄN VĂN KÉT

HỒ VIỆT HẢI

TRẦN VĂN BỐN

NGUYỄN VĂN TƯ

PHẠM VĂN THÀNH

VÕ AN NINH

NGUYỄN VĂN HOA

CHÂU VĂN HẠNH

PHAN VĂN QUÂN

ĐẶNG VĂN SÁNG

LÊ HỒNG PHƯỚC

HỒ VĂN BE

LÊ VĂN LẬP

TRẦN VĂN PHƯỚC

NGUYỄN VĂN ĐANG

NGUYỄN VĂN PHỒI

TRẦN VĂN XINH

LÊ VĂN CHIÊU

LÊ VĂN TÁM

TRẦN VĂN ĐÊ

NGUYỄN HÒA XA

TRẦN MINH THẮNG

LÊ VĂN LUÔNG

ĐẶNG THỊ NHIỂU

NGUYỄN VĂN HAI

TRẦN VĂN CỐC

NGUỄN VĂN DỰ

ĐINH QUANG GIÀU

NGUYỄN VĂN MỘT

LÊ VĂN LẮM

LÊ VĂN BÊ

NGUYỄN VĂN HOÀNG

NGUYỄN VĂN HÙNG

TRẦN VĂN HỘI

NGUYỄN VĂN HẬU

THÁI VĂN LẮM

NGUYỄN VĂN BÉ

TRẦN VĂN PO

LÊ VĂN HÙNG

NGUYỄN VĂN THÙY

 

1935

1925

1912

1931

1911

1935

1932

1926

1930

1914

1915

1936

1928

1932

1932

1941

1925

1942

1941

1944

1926

1932

1935

1942

1915

1934

1943

1909

1937

1923

1934

1948

1937

1937

1925

1933

1910

1912

1930

1938

1937

1922

1930

1947

1925

1926

1928

1918

1931

1932

1932

1931

1933

1940

1934

1940

1923

1914

1917

1909

1927

1935

1944

1946

1946

1917

1921

1917

1918

1908

1932

1931

1930

1918

1932

1926

1929

1937

1937

1905

1930

1930

1940

1940

1940

1927

1930

1931

1939

1937

1944

1938

1943

1930

1935

1920

1916

1926

1938

1930

1930

1944

1928

1941

1915

1948

1946

1926

1938

1936

1926

1916

1927

1920

1935

1942

1914

1904

1934

1930

1922

1926

1916

1924

1904

1964

1920

1938

1922

1917

1911

1925

1941

1941

1939

1940

1949

1947

1910

1926

1917

1948

1947

1944

1938

1926

1934

1948

1948

1930

1947

1931

1948

1932

1930

1926

1919

1931

1930

1911

1931

1912

1913

1912

1918

1931

1922

1920

1922

1916

1922

1923

1924

1921

1913

1922

1929

1923

1930

1931

1931

1919

1931

1906

1912

1931

1921

1921

1916

1930

1930

1911

1924

1917

1920

1930

1908

1919

1924

1914

1911

1910

1932

1930

1909

1924

1927

1920

1916

1939

1911

1923

1938

1914

1922

1912

1920

1908

1909

1912

1927

1933

1928

1919

1911

1917

1922

1930

1945

1929

1927

1921

1937

1910

1910

1914

1905

1948

1948

1945

1951

1948

1935

1952

1940

1950

1937

1933

 

 

 

 

DANH SÁCH BÍ THƯ XÃ ĐÔNG PHƯỚC

(Qua 2 cuộc kháng chiến

Chống Pháp – Mỹ: 1938 – 1975)

 

- Năm 1938 – 1939: Người Bí thư đầu tiên là đồng chí Ngô Hữu Hạnh (lúc này chi bộ có 4 đảng viên).

- Năm 1939 – 1946: Chi bộ chia ra:

+ Chi bộ Đông Sơn, đ/c Phạm Chánh Mỹ Bí thư.

+ Chi bộ Thường Phước, đ/c Trần Văn Hưởng Bí thư.

- Năm 1947 – 1960: Hai làng nhập lại thành xã Đông Phước, đ/c Phạm Chủ Lực (Năm Mỹ) làm Bí thư Đảng bộ.

- Tháng 7/1954: Lê Thành Trung Bí thư (đến tháng 12/1954).

- Tháng 12/1954 – 1957: đ/c Phạm Chánh Mỹ Bí thư.

- Năm 1958: đ/c Năm Thiện (Sáu Hộ) Bí thư.

- Cuối tháng 6/1960 – 1963: đ/c Trần Văn Duyên (Chín Mẫn) Bí thư.

- Năm 1964: đ/c Hai Thảnh làm Bí thư.

- Tháng 2/1965 – 12/1967: đ/c Trần Văn Năm (Năm Mù) Bí thư.

- Tháng 01/1968 – 6/1968: đ/c Nguễn Văn Chơi (Ba Long) Bí thư.

- Tháng 6/1968 – 10/1968: đ/c Bảy Tần Bí thư.

- Tháng 10/1968 – 01/1969: đ/c Tư Chương Bí thư.

- Tháng 01/1969 – 10/1969:đ/c Trương Văn Cao (Tám Cao) Bí thư.

- Tháng 10/1969 – 1972: đ/c Phùng Văn Inh (Sáu Inh) Bí thư.

- Năm 1972-13/4/1975: đ/c Liễu Văn Út (Út Một) Bí thư.

- 13/4/1975 – 30/4/1975: đ/c Lê Văn Tuôi (Tám Nùng) Bí thư (lúc này chi bộ có 14 đảng viên đến ngày toàn thắng).

 

 

 

 

 

* Chỉ đạo và chịu trách nhiệm xuất bản:

 

BAN THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY XÃ ĐÔNG PHƯỚC

 

* Ban Biên tập:

1. ĐẶNG THUẬN PHONG

2. NGUYỄN HOÀNG THOẠI

3. LÊ PHƯỚC THÀNH

4. NGUYỄN VĂN VĨ

5. ĐỖ TẤN TÀI

* Chủ biên:

Nhạc sĩ Cửu Long

 

 

 

            In 150 quyển, khổ 14,5 x 20,5cm. In tại Xí nghiệp In Tổng hợp Cần Thơ. Giấy phép xuất bản số 192/GPXB.SVHTT,do Sở Văn hóa – Thông tin Cần Thơ cấp ngày 25 tháng 12 năm 2003.ảo

 

 

 

 

 

Bản quyền 2010 thuộc về Ủy ban Nhân dân huyện Châu Thành
Số giấy phép theo quyết định số 1980/QĐ-UBND ngày 16/09/2010 của UBND tỉnh Hậu Giang
Đơn vị quản lý: Văn phòng HĐND&UBND huyện - Tỉnh lộ 925 - Thị trấn Ngã Sáu - Châu Thành - Hậu Giang
Điện thoại: 0711.3948558 , Fax: 0711.3948500, Email: chauthanh@haugiang.gov.vn